Tổng quan luận án
Công trình "Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam giai đoạn 2010-2020" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Dũng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Dương Văn Sao và TS. Trần Minh Yến, bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Luận án thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, mã số 62.10.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo số liệu tác giả trình bày, Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó 53 dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm khoảng 14,3% dân số cả nước, cư trú chủ yếu trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố. Địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS và MN) chiếm tới 3/4 diện tích tự nhiên, giữ vị trí phên dậu chiến lược về chính trị, an ninh quốc phòng (ANQP) và biên giới quốc gia, đồng thời sở hữu tiềm năng lớn về nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, kinh tế cửa khẩu và du lịch sinh thái.
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), vùng DTTS và MN vẫn đối mặt với khoảng cách chênh lệch lớn so với mặt bằng chung. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại vùng Trung du và Miền núi (TD và MN) phía Bắc và Tây Nguyên cao gấp 1,5 đến 2 lần mức bình quân cả nước; cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ; chất lượng nguồn nhân lực thấp; năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập. Tác giả xác định nguyên nhân cơ bản hàng đầu của những hạn chế trên là tình trạng thiếu hụt vốn đầu tư phát triển. Trong bối cảnh nguồn lực quốc gia khan hiếm và nền kinh tế đang thực hiện tái cơ cấu đầu tư công, việc tìm kiếm giải pháp huy động tối đa các nguồn vốn gắn với đặc thù tự nhiên, văn hóa, xã hội của vùng trở thành đòi hỏi cấp bách.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH, lý thuyết đầu tư, dự báo nhu cầu vốn đầu tư và lý thuyết phát triển vùng; phân tích kinh nghiệm quốc tế về huy động vốn và quản lý vùng có thể vận dụng vào Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH tại vùng TD và MN phía Bắc và Tây Nguyên giai đoạn 2001-2010 (kết quả, cơ cấu, xu hướng, tác động của vốn đến tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu ngân sách, xuất khẩu); chỉ ra hạn chế, nguyên nhân hạn chế, bài học kinh nghiệm và các vấn đề đặt ra.
- Làm rõ các nhân tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi về cơ chế chính sách nhằm huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư phát triển KT-XH cho hai vùng nghiên cứu đến năm 2020.
Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm:
- Điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên), KT-XH (cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, văn hóa), vai trò của chính quyền các cấp về quản lý đầu tư và quá trình hội nhập ảnh hưởng như thế nào đến huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH của vùng?
- Mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư với đối tượng sử dụng vốn đầu tư diễn ra như thế nào?
- Các chính sách đầu tư và chính sách dân tộc ảnh hưởng như thế nào đến việc huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH vùng?
- Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH của vùng giai đoạn 2001-2010 đạt kết quả ra sao, tồn tại những hạn chế và nguyên nhân nào?
- Những yếu tố nào tác động trực tiếp đến phát triển KT-XH vùng?
- Trong điều kiện nhu cầu vốn lớn, nguồn vốn cần được huy động từ đâu, mức độ và cơ cấu huy động như thế nào, cơ chế quản lý, phân bổ và điều tiết ra sao để đạt hiệu quả cao?
Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH; các nhân tố ảnh hưởng; mối quan hệ giữa nguồn huy động và đối tượng sử dụng vốn; chính sách quản lý, phân bổ và điều tiết vốn đầu tư phát triển KT-XH.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2001-2010; đề xuất giải pháp và dự báo nhu cầu vốn đến năm 2020.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào hai vùng trọng điểm là vùng TD và MN phía Bắc (gồm 14 tỉnh) và vùng Tây Nguyên (gồm 5 tỉnh).
Tác giả luận chứng 5 lý do chọn hai địa bàn này làm đại diện cho vùng DTTS và MN cả nước:
- Tỷ lệ người DTTS tập trung cao nhất: Chiếm 64% tổng dân số DTTS cả nước (vùng TD và MN phía Bắc chiếm 54,6% dân số toàn vùng; Tây Nguyên chiếm 35,3% dân số toàn vùng).
- Địa hình chia cắt, tự nhiên khắc nghiệt: Địa hình miền núi hiểm trở (như dãy Hoàng Liên Sơn, Trường Sơn Nam), chịu nhiều thiên tai (lũ ống, lũ quét, rét đậm, rét hại) gây cản trở sản xuất.
- Trình độ phát triển KT-XH thấp, tỷ lệ nghèo cao nhất: Hai vùng tập trung 56/85 huyện nghèo nhất cả nước (chiếm 65,9%) và 1.848 xã đặc biệt khó khăn (chiếm 78,1% số xã đặc biệt khó khăn toàn quốc).
- Chính sách ưu tiên chưa đạt kỳ vọng: Dù được Nhà nước ưu tiên đầu tư qua nhiều chương trình, kết quả phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
- Vị trí chiến lược đặc biệt: Giữ vai trò then chốt về an ninh quốc phòng, bảo vệ biên giới và cân bằng môi trường sinh thái.
| Tiêu chí so sánh |
Vùng TD và MN phía Bắc |
Vùng Tây Nguyên |
Tổng cộng hai vùng |
| Số lượng tỉnh trực thuộc |
14 tỉnh |
5 tỉnh |
19 tỉnh |
| Tỷ lệ đồng bào DTTS trong vùng |
54,6% |
35,3% |
Chiếm 64% tổng số người DTTS cả nước |
| Các dân tộc thiểu số tiêu biểu |
Tày, Thái, Mường, Nùng, Hmông, Dao |
Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, M'nông |
Đa dạng các nhóm ngôn ngữ, văn hóa |
| Số huyện nghèo (theo chuẩn 85 huyện) |
46 huyện (chiếm 54,1% cả nước) |
10 huyện (chiếm 11,8% cả nước) |
56 huyện (chiếm 65,9% cả nước) |
| Số xã đặc biệt khó khăn |
1.848 xã (chiếm 66,4% cả nước) |
217 xã (chiếm 11,8% cả nước) |
Chiếm 78,1% tổng số xã ĐBKK cả nước |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến vốn và huy động vốn theo ba nhóm chính:
1. Các nghiên cứu quốc tế và lý luận kinh điển về vốn đầu tư
- Adam Smith trong tác phẩm Của cải của các dân tộc (1776) khẳng định tích lũy và tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng tư bản; không có tiết kiệm thì quy mô vốn không thể tăng lên.
- C. Mác trong tác phẩm Tư bản xác định tích lũy tư bản là quy luật tất yếu của tái sản xuất mở rộng, đòi hỏi sự gia tăng không ngừng của các yếu tố đầu vào thông qua đầu tư vốn dựa trên nền tảng mở rộng sản xuất và thực hành tiết kiệm.
- John Maynard Keynes trong Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ chứng minh mối quan hệ cân bằng vĩ mô giữa tiết kiệm và đầu tư ($I = S$), trong đó tiết kiệm là phần thu nhập dôi ra sau tiêu dùng.
- Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam về Phân tích Xã hội Quốc gia dân tộc và phát triển ở Việt Nam (2009) chỉ rõ 6 "trụ cột" bất lợi khiến đồng bào DTTS chậm thoát nghèo: trình độ giáo dục thấp; khả năng di chuyển kém; ít tiếp cận dịch vụ tài chính; thiếu đất sản xuất; khả năng tiếp cận thị trường hạn chế; rào cản văn hóa và định kiến xã hội.
- Báo cáo Phát triển Việt Nam 2009: Huy động và sử dụng vốn của Ngân hàng Thế giới phân tích các kênh huy động vốn nhà nước, thuế, tín dụng chính sách và dòng vốn ngoại, khuyến nghị ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết để tạo nguồn lực.
- Báo cáo phân tích điều tra cơ bản và đánh giá giữa kỳ Chương trình 135 - II giai đoạn 2006-2008 của UNDP phối hợp Ủy ban Dân tộc chỉ ra khoảng cách giữa nhu cầu đầu tư hạ tầng thiết yếu với khả năng đáp ứng của nguồn vốn, đồng thời khuyến nghị phân cấp quản lý ngân sách về cấp huyện, xã.
- Công trình của DFID phối hợp Viện Dân tộc về định canh định cư, cùng nghiên cứu của Baulch và cộng sự (2002) về khía cạnh kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam nhấn mạnh sự chênh lệch trong thụ hưởng chính sách do rào cản giáo dục và hạ tầng.
2. Các nghiên cứu trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Việt Nam
- Hướng nghiên cứu về đầu tư công và tái cơ cấu đầu tư: Nhóm tác giả [1], [39], [48], [58], [62], [93] tập trung phê phán tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, thất thoát lãng phí và đề xuất siết chặt kỷ luật ngân sách, gắn trách nhiệm người đứng đầu bộ ngành, địa phương.
- Hướng nghiên cứu về cơ chế chính sách huy động vốn: Nhóm công trình [12], [26], [38], [56], [88] đề cập đến các kênh huy động qua ngân sách nhà nước (NSNN), tín dụng thương mại, thị trường chứng khoán, trái phiếu, nguồn vốn của doanh nghiệp ngoài nhà nước và tiết kiệm dân cư [40], [61], [67], [71], [119].
- Hướng nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI, ODA): Nhóm tác giả [34], [66], [37], [81], [91], [104], [129] tập trung vào giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện quy hoạch ngành, ưu tiên công nghệ cao và hạn chế các dự án gây ô nhiễm tài nguyên.
3. Các nghiên cứu về đầu tư phát triển vùng DTTS và MN
- Các báo cáo tổng kết chính sách dân tộc và Chương trình 135 [10], [114], [132] đề xuất cơ chế phân bổ vốn tập trung cho các xã, huyện nghèo nhất, kết hợp huy động nội lực cộng đồng thông qua đóng góp ngày công lao động và vật liệu tại chỗ.
- Các nghiên cứu chuyên sâu về chính sách tài chính, tín dụng ưu đãi [19], [27], chính sách phát triển nguồn nhân lực [24], [54], phát triển du lịch gắn với giảm nghèo [65], công tác quy hoạch phát triển vùng Trung du Bắc Bộ [52], giải pháp vốn hóa tài nguyên tại Tây Bắc [75] và định hướng đầu tư Tây Nguyên [32], [64].
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Qua điểm luận y văn, tác giả nhận định các công trình trước đây chủ yếu xem xét từng nguồn vốn riêng lẻ, hoặc tiếp cận theo ranh giới hành chính một tỉnh, một ngành cụ thể mà chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, có hệ thống về huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH trên cả hai địa bàn đặc trưng nhất là TD và MN phía Bắc và Tây Nguyên giai đoạn 2010-2020.
Luận án tập trung giải quyết ba khoảng trống học thuật:
- Đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển giai đoạn 2001-2010 tại 19 tỉnh thuộc hai vùng đặc trưng theo nguồn vốn và ngành kinh tế, phân tích đầy đủ nguyên nhân hạn chế.
- Phân tích mối quan hệ giữa kết quả, giải pháp huy động vốn với các yếu tố đặc thù về địa lý, tự nhiên, văn hóa dân tộc và yêu cầu an ninh quốc phòng trong bối cảnh tái cơ cấu đầu tư công.
- Dự báo nhu cầu vốn đầu tư theo ngành đến năm 2020 và đề xuất khung giải pháp quản lý, phân bổ nguồn lực đồng bộ, phù hợp với điều kiện của vùng DTTS và MN.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Đầu tư và đầu tư phát triển: Đầu tư là quá trình phối hợp sử dụng các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được các mục tiêu KT-XH nhất định. Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng vốn để tạo ra tài sản vật chất và tài sản trí tuệ mới, tăng năng lực sản xuất và tạo việc làm. Hoạt động đầu tư phát triển có 4 đặc điểm cốt lõi: quy mô vốn lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài, thời gian vận hành kết quả kéo dài, và độ rủi ro cao.
- Nội dung và phân loại vốn đầu tư phát triển:
- Về nội dung: gồm vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác (thăm dò khảo sát, quy hoạch, y tế, giáo dục đào tạo, môi trường).
- Về nguồn gốc: chia thành nguồn vốn trong nước (giữ vai trò quyết định, gồm ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, dân cư) và nguồn vốn nước ngoài (giữ vai trò quan trọng, gồm FDI, ODA, vốn vay thương mại).
- Lý thuyết số nhân đầu tư: Phản ánh mức gia tăng sản lượng khi đầu tư tăng thêm một đơn vị:
$$\Delta Y = k \cdot \Delta I \quad \text{với} \quad k = \frac{1}{1 - MPC} = \frac{1}{MPS}$$
(Trong đó $k$ là số nhân đầu tư, $MPC$ là khuynh hướng tiêu dùng biên, $MPS$ là khuynh hướng tiết kiệm biên).
- Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư: Giả định đầu tư phụ thuộc vào lợi nhuận thực tế:
$$I = f(\text{Lợi nhuận thực tế})$$
Doanh nghiệp ưu tiên sử dụng lợi nhuận giữ lại và quỹ khấu hao hơn là đi vay hoặc phát hành chứng khoán; việc giảm thuế lợi tức doanh nghiệp có tác dụng kích thích tăng quy mô quỹ nội bộ, từ đó thúc đẩy đầu tư.
- Mô hình Harrod - Domar: Luận án chọn mô hình Harrod - Domar làm công cụ định lượng trung tâm để dự báo tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cho vùng:
$$g = \frac{S}{ICOR}$$
(Trong đó $g$ là tốc độ tăng trưởng kinh tế, $S$ là tỷ lệ tiết kiệm/đầu tư so với GDP, $ICOR$ là hệ số gia tăng vốn trên sản lượng). Để nâng cao độ chính xác, luận án áp dụng tính toán nhu cầu vốn theo hệ số ICOR và giá trị gia tăng riêng cho từng ngành kinh tế.
- Lý thuyết phát triển vùng:
- Khái niệm vùng KT-XH theo Nghị định số 92/2006/NĐ-CP (phân chia 6 vùng kinh tế toàn quốc).
- Vùng DTTS và MN là địa bàn miền núi có đông đồng bào DTTS sinh sống ổn định thành cộng đồng.
- Lý thuyết tăng trưởng nội sinh vùng của C. Fisher (1939) chỉ ra động lực phát triển vùng bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội và mức độ chuyên môn hóa sản xuất nội tại.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và kỹ thuật xử lý số liệu định lượng kinh tế:
- Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các nguyên lý kinh tế học vĩfv mô, tài chính công và quản lý nhà nước về kinh tế.
- Phương pháp thu thập thông tin: Khai thác nguồn tài liệu thứ cấp từ các văn kiện, nghị quyết của Đảng, chính sách của Chính phủ; số liệu thống kê chính thức từ Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê (TCTK), số liệu báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Dân tộc và Cục Thống kê của 19 tỉnh thuộc hai vùng nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2010.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế theo chuỗi thời gian (2001-2010) và không gian (so sánh giữa vùng TD và MN phía Bắc, vùng Tây Nguyên với bình quân cả nước).
- Phương pháp phân tổ thống kê: Phân chia nguồn vốn theo thành phần kinh tế, cơ cấu nguồn (NSNN, tín dụng, FDI, ODA, tư nhân) và theo 3 nhóm ngành kinh tế (Nông - Lâm - Thủy sản; Công nghiệp - Xây dựng; Dịch vụ).
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà quản lý, nhà khoa học tại các bộ, ngành Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và lãnh đạo địa phương.
- Phương pháp dự báo kinh tế: Ứng dụng mô hình Harrod-Domar để tính toán nhu cầu vốn đầu tư theo các kịch bản tăng trưởng KT-XH đến năm 2020.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: Lý luận và thực tiễn về huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về vốn và huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH trên quy mô vùng. Tác giả luận giải rõ mối quan hệ hai chiều giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế: đầu tư vừa tác động đến tổng cầu trong ngắn hạn, vừa bổ sung năng lực sản xuất làm gia tăng tổng cung trong dài hạn; đồng thời đóng vai trò then chốt trong chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ.
Tác giả phân tích các nhân tố tác động đến huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH vùng, phân loại thành hai nhóm:
- Nhân tố nội tại của vùng: Vị trí địa lý, điều kiện địa hình, tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển KT-XH, chất lượng nguồn nhân lực và bản sắc văn hóa các dân tộc.
- Nhân tố bên ngoài: Hệ thống cơ chế, thể chế kinh tế vĩ mô, chính sách đầu tư và chính sách dân tộc của Nhà nước, môi trường kinh tế quốc tế và xu thế hội nhập kinh tế.
Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn quốc tế:
- Về huy động vốn: Phân tích bài học tạo vốn của Hàn Quốc (chú trọng tích lũy trong nước kết hợp định hướng tín dụng), Trung Quốc (thu hút vốn đầu tư thông qua các đặc khu và chính sách ưu đãi đất đai tại các vùng sâu nội địa), và các nước ASEAN.
- Về tổ chức bộ máy và chính sách phát triển vùng: Khảo sát kinh nghiệm thiết lập thể chế điều phối vùng, phân cấp tài chính và chính sách trợ cấp có mục tiêu cho các vùng kém phát triển tại một số quốc gia, từ đó rút ra bài học áp dụng vào điều kiện thể chế của Việt Nam.
CHƯƠNG 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên
Chương 2 tập trung phân tích nguồn dữ liệu thực chứng giai đoạn 2001-2010 tại 19 tỉnh của hai vùng nghiên cứu.
Về điều kiện tự nhiên và hạ tầng, vùng TD và MN phía Bắc chịu sự chia cắt mạnh của hệ thống núi non hiểm trở (tiêu biểu là dãy Hoàng Liên Sơn dài 180 km, rộng 30 km với đỉnh Phan Xi Phăng cao 3.143 m), khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên chịu lũ quét, lũ ống và rét đậm rét hại. Tây Nguyên có địa hình cao nguyên xếp tầng, bao bọc bởi khối núi Trường Sơn Nam. Cả hai vùng đều có xuất phát điểm kinh tế thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 1,5 đến 2 lần bình quân cả nước, kết cấu hạ tầng giao thông kết nối rất yếu kém.
Về kết quả huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH giai đoạn 2001-2010:
- Vốn đầu tư toàn xã hội tăng liên tục về giá trị tuyệt đối nhưng phân bổ không đồng đều giữa các vùng kinh tế. Tỷ trọng vốn đầu tư vào hai vùng nghiên cứu còn rất khiêm tốn so với Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ.
- Cơ cấu nguồn vốn: Ngân sách nhà nước và vốn tín dụng chính sách đóng vai trò chủ đạo tuyệt đối; nguồn vốn từ doanh nghiệp ngoài nhà nước và tích lũy trong dân cư còn rất hạn chế do thu nhập bình quân đầu người thấp.
- Thu hút dòng vốn ngoài vùng: Vốn FDI và ODA đầu tư vào hai vùng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng vốn cả nước (đến cuối năm 2009, tỷ lệ vốn FDI đăng ký vào vùng TD và MN phía Bắc và Tây Nguyên chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể, tập trung chủ yếu vào khai khoáng và thủy điện, thiếu vắng các dự án công nghệ cao hay chế biến sâu).
Tác giả sử dụng Bảng 2.1 và hệ thống các biểu đồ, hình vẽ (Hình 2.1 đến 2.9) để minh họa cơ cấu vốn đầu tư theo ngành và tác động vĩ mô:
- Tỷ lệ vốn đầu tư xã hội so với GDP của vùng TD và MN phía Bắc và Tây Nguyên có giai đoạn duy trì ở mức cao nhằm bù đắp cho hạ tầng yếu kém.
- Vốn đầu tư đã tạo chuyển biến tích cực trong việc nâng cao kim ngạch xuất khẩu của hai vùng (chủ yếu là nông sản chủ lực như cà phê, cao su ở Tây Nguyên và khoáng sản, chè ở phía Bắc).
| Danh mục bảng, hình phản ánh thực trạng tại Chương 2 |
Nội dung và phạm vi số liệu phản ánh trong văn bản |
| Bảng 2.1 |
Tổng vốn đầu tư xã hội theo ngành kinh tế vùng TD và MN phía Bắc, Tây Nguyên giai đoạn 2001-2010 (tr. 99) |
| Hình 2.1 & Hình 2.2, 2.3 |
Vốn đầu tư toàn xã hội cả nước (2001-2010); Cơ cấu vốn đầu tư vùng TD&MN phía Bắc và Tây Nguyên (2000-2010) |
| Hình 2.4 & Hình 2.5, 2.6 |
Phân bổ vốn ODA theo vùng (2006-2009); Phân bổ và cấp phép vốn FDI theo vùng lãnh thổ (1988 - 2009) |
| Hình 2.7 & Hình 2.8, 2.9 |
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP hai vùng so với cả nước (2000-2010); Kim ngạch xuất khẩu của hai vùng (2000-2010) |
Đánh giá chung của chương:
- Kết quả đạt được: Đã huy động được lượng vốn nhất định góp phần cải thiện hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế; tỷ lệ hộ nghèo giảm dần; diện mạo nông thôn miền núi có khởi sắc.
- Hạn chế: Quy mô vốn huy động chưa đáp ứng nhu cầu phát triển; cơ cấu vốn phụ thuộc nặng nề vào ngân sách nhà nước; đầu tư công còn dàn trải, phân tán; hiệu quả sử dụng vốn thấp, hệ số ICOR cao; thu hút nguồn lực xã hội và vốn đầu tư nước ngoài đạt tỷ lệ rất thấp.
- Nguyên nhân: Thể chế điều phối liên kết vùng chưa hoàn thiện; môi trường đầu tư kém hấp dẫn; thủ tục hành chính phức tạp; địa hình chia cắt làm suất đầu tư công trình cao gấp nhiều lần vùng đồng bằng; chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản lý của bộ máy hành chính cơ sở còn nhiều bất cập.
CHƯƠNG 3: Giải pháp huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên của Việt Nam đến năm 2020
Chương 3 trình bày phương án dự báo và xác lập hệ thống giải pháp chính sách cho giai đoạn 2011-2020:
- Quan điểm và mục tiêu: Phát triển KT-XH hai vùng phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế cả nước; gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái và củng cố vững chắc an ninh quốc phòng vùng biên giới.
- Dự báo nhu cầu vốn đầu tư: Tác giả xây dựng các phương án phát triển (Bảng 3.1 cho vùng TD và MN phía Bắc; Bảng 3.2 cho vùng Tây Nguyên) và ứng dụng mô hình Harrod-Domar để tính toán nhu cầu vốn theo ngành kinh tế giai đoạn 2011-2020 (trình bày tại Bảng 3.3 và Bảng 3.4).
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn đầu tư
- Tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn đầu tư từ NSNN; tập trung vốn cho các công trình hạ tầng huyết mạch có tính liên kết vùng, xóa bỏ tình trạng phân bổ dàn trải.
- Đổi mới chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng chính sách xã hội; đơn giản hóa thủ tục cho vay, mở rộng đối tượng vay vốn đối với hộ gia đình DTTS để phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp.
- Khơi thông các kênh huy động vốn từ khu vực tư nhân, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư: đẩy nhanh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, đất sản xuất để tạo điều kiện thế chấp vay vốn ngân hàng; phát hành trái phiếu chính quyền địa phương hoặc trái phiếu công trình cho các dự án hạ tầng trọng điểm; áp dụng linh hoạt mô hình đối tác công - tư (PPP, BOT, BT, BTO).
- Cơ chế ưu đãi đặc thù thu hút vốn ODA và FDI vào các ngành chế biến nông - lâm sản, năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn văn hóa; kiên quyết từ chối các dự án khai thác tận diệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường.
2. Nhóm giải pháp xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn
- Hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển KT-XH của vùng và từng địa phương; công khai, minh bạch danh mục các chương trình, dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư đến năm 2020.
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế "một cửa", rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư và giải phóng mặt bằng.
- Xây dựng chính sách ưu đãi vượt trội về giá thuê đất, hỗ trợ san lấp mặt bằng, kết nối hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, viễn thông) đến chân hàng rào khu, cụm công nghiệp tại các địa bàn khó khăn.
3. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực
- Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật trường lớp học, hệ thống trường dân tộc nội trú, trường dạy nghề tại các trung tâm tiểu vùng.
- Thực hiện đào tạo nghề gắn với nhu cầu của các doanh nghiệp và dự án đầu tư trên địa bàn; ưu tiên tuyển dụng và đào tạo lao động là người DTTS tại chỗ.
- Đổi mới chính sách đãi ngộ, thu hút trí thức trẻ, chuyên gia kỹ thuật và cán bộ quản lý giỏi về công tác tại các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
4. Nhóm giải pháp đổi mới quản lý điều hành KT-XH của chính quyền các cấp
- Thành lập và hoàn thiện thể chế Ban điều phối liên kết vùng TD và MN phía Bắc và Tây Nguyên nhằm khắc phục tình trạng chia cắt địa giới hành chính, phối hợp nguồn lực đồng bộ.
- Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ gắn liền với tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng các công trình đầu tư công; gắn trách nhiệm giải trình của lãnh đạo địa phương với hiệu quả dự án.
- Phát huy quy chế dân chủ ở cơ sở: công khai các nguồn vốn, dự án đầu tư để đồng bào DTTS được biết, bàn, làm, kiểm tra và trực tiếp tham gia quản lý, bảo dưỡng các công trình hạ tầng nông thôn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về vốn, nguồn vốn và cơ chế huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH đối với vùng đặc thù (vùng DTTS và MN).
- Luận giải mối quan hệ tương hỗ giữa nguồn vốn huy động với đối tượng sử dụng vốn trong điều kiện nền kinh tế chuyển đổi và đang đẩy mạnh tái cơ cấu đầu tư công tại Việt Nam.
- Vận dụng thành công mô hình Harrod - Domar kết hợp hệ số ICOR và chỉ tiêu giá trị gia tăng riêng cho từng ngành để dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển vùng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh, toàn diện về thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển KT-XH tại 19 tỉnh thuộc vùng TD và MN phía Bắc và Tây Nguyên trong cả thập kỷ 2001-2010.
- Chỉ rõ những khiếm khuyết mang tính cơ cấu: tỷ trọng vốn huy động của hai vùng thấp so với tiềm năng; sự phụ thuộc quá lớn vào NSNN; dòng vốn FDI và vốn tư nhân ngoài vùng chưa được khơi thông.
- Phân tích nguyên nhân của các hạn chế xuất phát từ đặc điểm tự nhiên hiểm trở, địa hình chia cắt, thiên tai, năng lực thể chế quản lý vùng và chất lượng nguồn nhân lực thấp.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chính sách có cơ sở khoa học và tính khả thi cao nhằm giải quyết bài toán thiếu hụt vốn đầu tư cho vùng TD và MN phía Bắc và Tây Nguyên đến năm 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Về phạm vi địa bàn: Do nguồn lực và quy mô một luận án tiến sĩ, nghiên cứu mới tập trung phân tích sâu hai vùng đại diện lớn nhất là TD và MN phía Bắc (14 tỉnh) và Tây Nguyên (5 tỉnh), chưa thể bao quát toàn bộ các địa bàn có đồng bào DTTS sinh sống tại vùng Duyên hải miền Trung hay Tây Nam Bộ.
- Về nguồn số liệu thứ cấp: Chuỗi số liệu phân tích thực trạng chi tiết dừng lại ở mốc năm 2010 (theo chu kỳ quy hoạch và niên giám thống kê sẵn có tại thời điểm thực hiện đề tài năm 2014), chưa phản ánh được các biến động kinh tế vĩ mô trong giai đoạn 2011-2014.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các địa bàn DTTS thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ nhằm hoàn thiện bức tranh tổng thể trên phạm vi toàn quốc.
- Cập nhật số liệu thực tế giai đoạn 2011-2020 để kiểm định độ chính xác của các dự báo nhu cầu vốn theo mô hình Harrod - Domar đã đề xuất.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế tài chính cho các mô hình liên kết vùng mới và tác động của biến đổi khí hậu đến suất đầu tư công trình hạ tầng miền núi.
Giá trị tham khảo
Bản luận án có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn:
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Dân tộc, Bộ Tài chính): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn đầu tư công, xây dựng tiêu chí phân bổ ngân sách ưu tiên cho các chương trình mục tiêu quốc gia và chính sách dân tộc.
- Đối với chính quyền địa phương 19 tỉnh thuộc hai vùng nghiên cứu: Tham khảo khung giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, định hướng lựa chọn danh mục dự án ưu tiên và giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, thủ tục tín dụng.
- Đối với giới học thuật, nghiên cứu sinh, giảng viên kinh tế: Là tài liệu tham khảo hệ thống về phương pháp phân tích kinh tế vùng, phương pháp ứng dụng mô hình Harrod-Domar tính toán nhu cầu vốn theo ngành kinh tế, và phương pháp tiếp cận đa chiều kết hợp kinh tế với các yếu tố văn hóa - xã hội đặc thù.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn vùng Trung du và Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên làm địa bàn nghiên cứu đại diện cho vùng DTTS và MN cả nước?
Tác giả đưa ra 5 căn cứ: (1) Hai vùng tập trung 64% tổng dân số DTTS cả nước; (2) Địa hình miền núi chia cắt mạnh, chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt; (3) Tỷ lệ đói nghèo cao nhất cả nước, chiếm 56/85 huyện nghèo (65,9%) và 78,1% số xã đặc biệt khó khăn toàn quốc; (4) Kết quả đầu tư giai đoạn trước chưa đạt mục tiêu đề ra; (5) Giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, an ninh quốc phòng và biên giới quốc gia.
2. Luận án sử dụng mô hình lý thuyết nào để tính toán và dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển KT-XH của hai vùng đến năm 2020?
Tác giả lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế Harrod - Domar ($g = S/ICOR$). Để nâng cao độ chuẩn xác cho vùng, tác giả kết hợp dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế mục tiêu với việc tính toán hệ số ICOR và chỉ tiêu giá trị gia tăng (VA) hoặc GDP riêng biệt cho 3 nhóm ngành: Nông - Lâm - Thủy sản, Công nghiệp - Xây dựng, và Dịch vụ (trình bày chi tiết tại Bảng 3.3 và Bảng 3.4 của luận án).
3. Tỷ lệ phân bố huyện nghèo và xã đặc biệt khó khăn tại hai vùng nghiên cứu được văn bản phản ánh như thế nào?
Theo số liệu tại trang 19 của văn bản, vùng TD và MN phía Bắc có 46/85 huyện nghèo (chiếm 54,1%) và 1.848 xã đặc biệt khó khăn (chiếm 66,4% cả nước). Vùng Tây Nguyên có 10/85 huyện nghèo (chiếm 11,8%) và 217 xã đặc biệt khó khăn. Tổng hợp cả hai vùng có 56/85 huyện nghèo (chiếm 65,9%) và 1.848 xã đặc biệt khó khăn (văn bản xác định chiếm 78,1% tổng số xã đặc biệt khó khăn của cả nước).
4. Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư được tác giả viện dẫn nhằm giải thích vấn đề gì trong cơ chế tài trợ vốn?
Lý thuyết quỹ nội bộ chỉ ra rằng đầu tư phụ thuộc trực tiếp vào lợi nhuận thực tế ($I = f(\text{Lợi nhuận})$), doanh nghiệp ưu tiên tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại và quỹ khấu hao để tránh rủi ro vỡ nợ khi vay ngoài. Việc vận dụng lý thuyết này là cơ sở để tác giả đề xuất chính sách ưu đãi giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp đầu tư vào vùng DTTS và MN, giúp doanh nghiệp gia tăng nguồn tích lũy nội bộ để tái mở rộng quy mô sản xuất.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để huy động vốn đầu tư cho hai vùng đến năm 2020?
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ: (1) Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách huy động các nguồn vốn đầu tư (tái cơ cấu NSNN, tín dụng ưu đãi, đất đai, PPP/BOT, FDI, ODA); (2) Nhóm giải pháp xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn (công khai quy hoạch, cải cách hành chính); (3) Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực (đào tạo nghề, thu hút cán bộ giỏi); (4) Nhóm giải pháp đổi mới quản lý điều hành KT-XH của chính quyền các cấp (thể chế điều phối vùng, phân cấp quản lý, giám sát cộng đồng).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam giai đoạn 2010-2020" của tác giả Nguyễn Văn Dũng là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về vấn đề tạo lập và phân bổ nguồn lực tài chính cho hai vùng khó khăn nhất của Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận kinh tế học với các công cụ định lượng mô hình Harrod-Domar và phân tổ thống kê giai đoạn 2001-2010, tác giả đã làm rõ thực trạng thiếu hụt vốn, tính chất phụ thuộc vào ngân sách công và hiệu quả đầu tư chưa cao tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Các giải pháp đề xuất đến năm 2020 mang tính đồng bộ, gắn kết chặt chẽ yêu cầu huy động nguồn lực kinh tế với các yếu tố đặc thù về tự nhiên, văn hóa dân tộc và đảm bảo an ninh quốc phòng. Công trình đóng góp cơ sở dữ liệu và căn cứ lý luận quan trọng cho công tác quản trị kinh tế vùng và hoạch định chính sách dân tộc của Nhà nước.