MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nƣớc ta có 54 dân tộc cùng chung sống, trong đó có 53 DTTS chiếm khoảng 14,3% dân số cả nƣớc, đồng bào cƣ trú chủ yếu ở 52 tỉnh, thành phố. Địa bàn dân tộc, miền núi nƣớc ta chiếm ¾ diện tích, là vùng có nhiều tiềm năng và lợi thế về nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu và môi trƣờng sinh thái của cả nƣớc. Trong thời kỳ kháng chiến, địa bàn vùng DTTS và MN là chỗ dựa vững chắc, hậu phƣơng lớn để xây dựng lực lƣợng cách mạng làm nên các chiến thắng vẻ vang của dân tộc, đồng bào DTTS có truyền thống yêu nƣớc, luôn tin tƣởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nƣớc.
Trong thời kỳ hiện nay, địa bàn vùng DTTS và MN chủ yếu nằm trải dọc biên giới nối liền nƣớc ta với các nƣớc Trung Quốc, Lào, Căm Pu Chia, là vùng “phên dậu của tổ quốc”, là hàng rào vững chắc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nƣớc ta, vì thế nó có vị trí chiến lƣợc đặc biệt quan trọng về chính trị, KT-XH, ANQP. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng đó, Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chủ trƣơng, chính sách đầu tƣ vào vùng DTTS và MN. Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần đồng bào các DTTS và MN nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đăc biệt khó khăn đã có nhiều thay đổi và dần đƣợc cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể; hạ tầng KT-XH đƣợc tăng cƣờng đầu tƣ; lĩnh vực giáo dục và đào tạo đạt nhiều kết quả tích cực; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn; bản sắc văn hóa các dân tộc đƣợc quan tâm bảo tồn và phát triển; ANQP, trật tự an toàn xã hội đƣợc bảo đảm. Thành tựu trên đây đã thể hiện đƣờng lối nhất quán và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nƣớc, của cả hệ thống chính trị và sự chung tay góp sức của nhân dân cả nƣớc đối với sự nghiệp phát triển KT-XH vùng DTTS và MN.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc, vùng DTTS và MN KT- XH vẫn còn chậm phát triển, khoảng cách chênh lệch còn lớn so với các vùng 2 khác trong cả nƣớc, đời sống đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao, nhất là vùng TD và MN phía Bắc, Tây Nguyên cao gấp 1,5 đến 2 lần tỷ lệ nghèo trung bình của cả nƣớc, mức hƣởng thụ các tiến bộ xã hội và mức sống của đồng bào DTTS ngày càng doãng xa so với mặt bằng chung của cả nƣớc; chất lƣợng giáo dục và nguồn nhân lực rất thấp, phần lớn ngƣời trong độ tuổi lao động chƣa đƣợc đào tạo, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở năng lực, trình độ còn nhiều bất cập chƣa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân các dân tộc còn hạn chế; kết cấu hạ tầng không đáp ứng đƣợc yêu cầu sản xuất và phát triển; các thế lực thù địch luôn lợi dụng, kích động, chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc, tiềm ẩn nhiều bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Một trong những nguyên nhân cơ bản của hạn chế nêu trên đó là: thiếu vốn cho đầu tư phát triển, nhất là vùng TD và MN phía Bắc, Tây Nguyên, vấn đề này đang trở thành lực cản rất lớn cho phát triển KT-XH của Vùng. Với mong muốn góp một phần công sức vào việc tìm ra một số giải pháp huy động mọi nguồn vốn của nền kinh tế, trong điều kiện khan hiếm nguồn lực, nhằm tăng cƣờng nguồn lực đầu tƣ phát triển KT-XH và tạo thêm thực lực cho kinh tế Nhà nƣớc, giúp Chính phủ, ngành, địa phƣơng thực hiện việc quản lý, phân bổ, điều tiết vốn đầu tƣ vào ngành, lĩnh vực, vùng theo định hƣớng chiến lƣợc và mục tiêu phát triển KT-XH đất nƣớc nói chung, vùng DTTS và MN nói riêng. Vấn đề nêu trên, không phải là trăn trở của riêng tôi, mà là mối quan tâm chung của các nhà khoa học, quản lý, các cấp, các ngành từ TW đến địa phƣơng, của các nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc để huy động tối đa các nguồn lực đầu tƣ phát triển KT-XH vùng DTTS và MN nói chung, vùng TD và MN phía Bắc, Tây Nguyên nói riêng, nhằm khai thác tiềm năng sẵn có của Vùng phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, trong nghiên cứu “Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt 3 Nam giai đoạn 2010 - 2020”, Tác giả lựa chọn địa bàn nghiên cứu “Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên của Việt Nam đến năm 2020”, bởi vì, đây là hai vùng đặc trƣng nhất vùng DTTS và MN của Việt Nam để làm luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành quản lý kinh tế là phù hợp và rất cần thiết. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Khi bàn về vốn, đầu tƣ, vốn đầu tƣ, huy động vốn đầu tƣ nhiều nhà kinh tế học đã giành nhiều công sức nghiên cứu và đi đến kết luận quan trọng. Xin tóm tắt một số công trình nghiên cứu nhƣ sau: Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tƣ, chính là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động đƣợc để đƣa vào quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Điều này đƣợc các nhà kinh tế học chứng minh: Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, một đại diện điển hình của trƣờng phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm. Nhƣng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhƣng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên” [2]. Sang thể kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền KT-XH, về các vấn đề liên quan trực tiếp đến tích lũy và huy động tích luỹ (huy động vốn) cho đầu tƣ phát triển; trong tác phẩm “Tƣ bản”, theo C.
Mác: tích luỹ là quy luật của tái sản xuất mở rộng. Để thực hiện tái sản xuất mở rộng, cần tăng cƣờng các yếu tố đầu vào, tức là phải thực hiện đầu tƣ vốn. Vậy, theo quan điểm của C. Mác, chúng ta thấy rằng: con đƣờng cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng.
Hay nói cách khác, nguồn lực 4 cho đầu tƣ tái sản xuất mở rộng chỉ có thể đƣợc đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy của nền kinh tế. Nhà kinh tế học hiện đại John Maynard Keynes, trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, ông đã chứng minh đƣợc rằng: Đầu tƣ chính bằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng: Tức là: Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tƣ Tiết kiệm = Thu nhập - Tiêu dùng Nhƣ vậy: Đầu tƣ = Tiết kiệm Hay: (I) = (c) [53, tr. Đây là nghiên cứu quan trọng cho chúng ta biết rõ mối quan hệ giữa đầu tƣ và tiết kiệm; vậy, muốn tăng nguồn vốn đầu tƣ chúng ta phải có chính sách tiêu dùng và chính sách tiết kiệm phù hợp.
Trong những năm gần đây vùng DTTS và MN đang đƣợc các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu tìm hiểu và hỗ trợ đầu tƣ phát triển KT-XH thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo: Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đã triển khai công trình nghiên cứu Phân tích Xã hội Quốc gia dân tộc và phát triển ở Việt Nam [77] tập trung vào vấn đề “Dân tộc và Phát triển ở Việt Nam”, tìm ra nguyên nhân của tình trạng liên tục nghèo ở các DTTS. Nghiên cứu kết luận: “có 6 “trụ cột” bất lợi cụ thể giúp lý giải vì sao các DTTS vẫn nghèo hơn so với dân tộc Kinh cùng sinh sống trên cùng địa bàn. Sáu nhân tố cơ bản này bao gồm: trình độ giáo dục thấp hơn; tính di chuyển kém hơn; ít tiếp cận các dịch vụ tài chính hơn; ít đất sản xuất hơn; tiếp cận thị trƣờng thấp hơn; và lối suy nghĩ rập khuôn cũng nhƣ các rào cản văn hoá khác”. Ở phƣơng diện tiếp cận tín dụng và dịch vụ tài chính đối với ngƣời DTTS nghiên cứu cho rằng: “tiếp cận tín dụng ở mức độ và thời điểm thích hợp có thể giúp các hộ gia đình ngƣời DTTS tự thoát ra khỏi 5 cảnh nghèo với điều kiện có những lựa chọn đầu tƣ tốt và sử dụng đồng vốn sáng suốt… Việc cấp tín dụng cho các vùng DTTS là rất cấp thiết bởi việc thiếu tiếp cận nguồn tín dụng phù hợp có ảnh hƣởng không nhỏ tới khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kế và đầu tƣ vào các lĩnh vực mới, nhƣ thƣơng mại và dịch vụ, của ngƣời DTTS…”.
Từ đó khuyến nghị chính sách dịch vụ tài chính các nội dung chủ yếu: “Cần có những chính sách tín dụng cụ thể hƣớng tới ngƣời DTTS nhƣ một nhóm ngƣời đặc biệt. Ngƣời DTTS cần những lựa chọn đa dạng hơn trong tiếp cận tín dụng. Các hộ gia đình cần có đƣợc tiếp cận linh hoạt tới nhiều nguồn tín dụng. Cần áp dụng luật lệ trong hoạt động cho vay tƣ nhân và thế chấp để bảo vệ những ngƣời dễ bị tổn thƣơng”.
Nghiên cứu cho ta những gợi mở quan trọng là cần có chính sách đặc thù về: giáo dục, đất sản xuất, dịch vụ tài chính, thị trƣờng cho ngƣời DTTS có điều kiện thuận lợi để phát triển và hội nhập chung với cộng đồng các dân tộc, góp phần phát triển KT-XH vùng DTTS và MN ở Việt Nam.