Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chiến lược then chốt nhằm tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nâng cao toàn diện đời sống người dân nông thôn Việt Nam. Báo cáo tổng kết toàn quốc giai đoạn 2010 - 2019 ghi nhận tổng nguồn vốn huy động đạt 851.380 tỷ đồng, trong đó ngân sách Nhà nước đóng góp 266.785 tỷ đồng (tương đương 31,34%), nguồn vốn tín dụng đạt 434.950 tỷ đồng (chiếm 51,0%), vốn doanh nghiệp đạt 42.198 tỷ đồng (chiếm 4,9%) và cộng đồng dân cư đóng góp 107.447 tỷ đồng (khoảng 12,6%). Tuy nhiên, vấn đề nan giải phát sinh khi có tới 53 tỉnh thành xuất hiện nợ đọng xây dựng cơ bản với quy mô vượt 15.000 tỷ đồng, chủ yếu bắt nguồn từ tư tưởng trông chờ vào ngân sách và năng lực huy động vốn xã hội hóa còn hạn chế.

Huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mang đặc thù của một địa bàn trung du phía Nam với tổng diện tích tự nhiên 243,37 km2 (khoảng 24.337 ha) và quy mô dân số năm 2019 là 157.415 người, mật độ đạt 646 người/km2. Huyện có 20 đơn vị hành chính gồm thị trấn Hương Sơn và 19 xã (với 7 xã miền núi và 318 xóm). Trong bối cảnh quỹ đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 14.419,5 ha (70,77% đất nông lâm nghiệp) nhưng nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp truyền thống, thu nhập bình quân đầu người còn ở mức thấp, áp lực đảm bảo nguồn lực tài chính cho 19 tiêu chí nông thôn mới là thách thức đặc biệt lớn.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp với đề tài nghiên cứu về thực trạng huy động và sử dụng nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Phú Bình giai đoạn 2017 - 2019 tập trung giải quyết nút thắt về phân bổ dòng vốn. Mục tiêu cốt lõi là làm rõ cơ cấu vốn, đánh giá hiệu quả chi tiêu công, chỉ ra các yếu tố cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp tài chính khả thi cho giai đoạn 2021 - 2026. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giúp thu nhập của người dân địa phương tăng bình quân 1,9 lần so với thời kỳ trước khi thực hiện chương trình, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ trên địa bàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển kinh tế nông thôn và quản trị tài chính công, kết hợp với các định hướng chiến lược từ Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới gồm 19 tiêu chí. Khung lý thuyết của đề tài xoay quanh năm khái niệm nền tảng: nông thôn mới, nguồn vốn đầu tư, huy động vốn, phân cấp quản lý sử dụng vốn và hiệu quả vốn đầu tư phát triển.

Huy động vốn trong xây dựng nông thôn mới được xác định là quá trình chuyển hóa các nguồn lực tiềm năng từ bốn kênh chính thành quỹ tiền tệ thực tế: ngân sách Nhà nước (Trung ương và địa phương), vốn tín dụng (tín dụng chính sách và thương mại), vốn đầu tư từ doanh nghiệp và nguồn đóng góp tự nguyện của cộng đồng dân cư (bao gồm tiền mặt, hiện vật, quyền sử dụng đất và ngày công lao động). Nghiên cứu kế thừa lý thuyết huy động nguồn lực của Chu Tiến Quang (2005) và khung đánh giá chính sách tài chính của Vũ Nhữ Thăng (2015), khẳng định vai trò chủ thể của người dân theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng. Bên cạnh đó, luận văn tiếp thu bài học từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc (Nhà nước hỗ trợ 27,8% nguyên vật liệu, người dân đóng góp 72,2% nguồn lực) và mô hình Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Nhật Bản để hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn theo mức độ tự lực của từng địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2017 - 2019 trên phạm vi 19 xã và thị trấn Hương Sơn thuộc huyện Phú Bình. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo quyết toán tài chính của Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình, Văn phòng Điều phối Nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên và niên giám thống kê địa phương.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với quy mô mẫu khảo sát n = 120 đối tượng, bao gồm cán bộ quản lý cấp xã, trưởng thôn xóm, đại diện các hợp tác xã, doanh nghiệp và các hộ nông dân tại các tiểu vùng địa hình khác nhau. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho cả các xã vùng đồng bằng thuận lợi và 7 xã miền núi khó khăn. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tổ thống kê và phương pháp so sánh định lượng nhằm phân tích biến động cơ cấu nguồn vốn, chỉ số tăng trưởng kinh tế, mức vốn bình quân hoàn thành từng tiêu chí và tỷ lệ hoàn thành 19 tiêu chí quốc gia. Lý do lựa chọn các phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác mối tương quan giữa quy mô vốn đầu tư và mức độ cải thiện kết cấu hạ tầng, từ đó nhận diện rõ ràng các điểm nghẽn trong công tác thanh quyết toán và giải ngân nguồn vốn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng huy động và sử dụng nguồn vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Phú Bình giai đoạn 2017 - 2019 đã chỉ ra bốn phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn huy động có sự chuyển dịch tích cực nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào ngân sách Nhà nước và vốn tín dụng. Nguồn vốn ngân sách các cấp chiếm tỷ trọng khoảng 30% đến 35%, nguồn vốn tín dụng chiếm trên 48%, trong khi vốn đóng góp từ các doanh nghiệp còn ở mức khiêm tốn, chỉ đạt dưới 5% tổng nguồn lực. Đóng góp của người dân thông qua hiến đất làm đường, ngày công lao động và tiền mặt chiếm khoảng 12% đến 15%, thể hiện sự đồng thuận cao của cộng đồng.

Thứ hai, việc sử dụng nguồn vốn tập trung chủ yếu vào nhóm tiêu chí hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu. Hơn 70% tổng nguồn vốn đầu tư công được phân bổ cho việc kiên cố hóa hệ thống giao thông nông thôn, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, trạm y tế xã và nâng cấp hệ thống kênh mương nội đồng. Ngược lại, nguồn vốn trực tiếp hỗ trợ phát triển sản xuất, liên kết chuỗi giá trị và nhân rộng mô hình kinh tế nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 10% đến 12% tổng chi.

Thứ ba, hiệu quả đầu tư mang lại sự bứt phá rõ rệt về diện mạo nông thôn và đời sống dân sinh. Tính đến hết năm 2019, số tiêu chí nông thôn mới đạt chuẩn bình quân trên mỗi xã của huyện Phú Bình đã tăng trưởng ấn tượng, thu nhập bình quân của người dân tăng 1,9 lần so với thời điểm bắt đầu triển khai chương trình. Tỷ lệ đất phi nông nghiệp phục vụ dân sinh và hạ tầng tăng trưởng ổn định với tốc độ bình quân đạt 100,33%/năm.

Thứ tư, công tác giải ngân và phân cấp quản lý đầu tư xuất hiện sự mất cân đối cục bộ. Mặc dù huyện đã thực hiện phân cấp cho Ủy ban nhân dân xã phê duyệt các dự án có tổng mức đầu tư dưới 3 tỷ đồng, một số xã vẫn gặp khó khăn trong bố trí vốn đối ứng, dẫn đến nguy cơ chậm tiến độ và áp lực nợ đọng xây dựng cơ bản.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa nguồn lực tài chính và tốc độ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới. Nguyên nhân chính khiến nguồn vốn doanh nghiệp tại Phú Bình còn thấp là do quy mô sản xuất nông nghiệp của huyện còn manh mún, các chính sách ưu đãi về tiếp cận đất đai và mặt bằng chưa đủ sức hấp dẫn các tập đoàn lớn đầu tư vào lĩnh vực chế biến sâu.

Khi dữ liệu được mô hình hóa qua các biểu đồ so sánh số tiêu chí bình quân trên xã giữa huyện Phú Bình với toàn tỉnh Thái Nguyên và cả nước, Phú Bình cho thấy tốc độ hoàn thành tiêu chí giao thông và điện nông thôn nhanh hơn mức bình quân chung, nhưng tiêu chí môi trường và hình thức tổ chức sản xuất còn tụt lại phía sau. Bảng phân tích cơ cấu thu nhập của 120 hộ khảo sát chỉ ra rằng các hộ có khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng thương mại và tín dụng chính sách đều có mức thu nhập cao hơn từ 25% đến 40% so với nhóm hộ thuần nông không vay vốn.

So sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại huyện Hải Hậu (Nam Định) và Tiền Hải (Thái Bình), việc huyện Phú Bình triển khai cơ chế vận động nhân dân tự nguyện hiến đất kết hợp ngân sách hỗ trợ xi măng đã giúp giảm khoảng 30% chi phí xây lắp các tuyến đường liên xóm. Tuy nhiên, việc thiếu hụt các quỹ tín dụng vi mô tại thôn bản khiến người dân ở các xã miền núi khó chủ động mở rộng sản xuất quy mô lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn vốn xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phú Bình giai đoạn 2021 - 2026, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp đồng bộ:

Thứ nhất, đa dạng hóa các hình thức thu hút nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước. Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ban hành danh mục dự án kêu gọi đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực hạ tầng thương mại nông thôn và xử lý môi trường. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp lên mức 8% đến 10% tổng vốn huy động vào năm 2026.

Thứ hai, mở rộng quy mô và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Chính sách Xã hội trên địa bàn cần đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản, nâng mức tăng trưởng dư nợ tín dụng nông nghiệp đạt từ 12% đến 14%/năm, ưu tiên vốn vay cho các hợp tác xã, trang trại ứng dụng công nghệ cao và các mô hình đạt chuẩn OCOP.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý và kiểm soát chặt chẽ quy trình thanh quyết toán vốn đầu tư công. Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ được phép phê duyệt khởi công các dự án cơ sở hạ tầng có mức vốn dưới 3 tỷ đồng khi đã xác định rõ 100% nguồn vốn bố trí, kiên quyết không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản. Đồng thời, tăng cường vai trò của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng nhằm đảm bảo tính minh bạch, tiết kiệm tối thiểu 5% chi phí thi công các công trình thôn xóm.

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý chương trình nông thôn mới cấp xã, thôn. Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện tổ chức định kỳ các khóa tập huấn về lập kế hoạch tài chính trung hạn, quản lý hồ sơ quyết toán và kỹ năng tuyên truyền vận động quần chúng cho 100% cán bộ phụ trách tại 19 xã và thị trấn Hương Sơn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý Nhà nước tại Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Phòng Tài chính - Kế hoạch: Tài liệu cung cấp quy trình bài bản về hoạch định cơ cấu nguồn vốn, phương pháp lập dự toán ngân sách và cơ chế giám sát các dự án đầu tư công dưới 3 tỷ đồng tại khu vực nông thôn trung du.

Thứ hai, các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Tài chính công: Luận văn là nguồn tham khảo phong phú về khung lý thuyết huy động nguồn lực, phương pháp điều tra mẫu thực địa n = 120 và hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong phát triển nông thôn.

Thứ ba, ban lãnh đạo các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng nhân dân: Cung cấp góc nhìn thực chứng về nhu cầu vốn vay của các hộ gia đình và hợp tác xã nông nghiệp, làm cơ sở xây dựng các gói sản phẩm tín dụng phù hợp với chu kỳ sản xuất nông lâm nghiệp.

Thứ tư, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp: Giúp nắm bắt tổng thể bức tranh quy hoạch hạ tầng nông thôn huyện Phú Bình, từ đó tìm kiếm cơ hội liên kết chuỗi giá trị và hưởng các cơ chế ưu đãi đầu tư của địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Khó khăn lớn nhất trong việc huy động vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Phú Bình là gì? Khó khăn lớn nhất là nguồn thu ngân sách địa phương còn hạn hẹp do kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong khi khả năng đóng góp tiền mặt của người dân tại 7 xã miền núi còn thấp. Điều này tạo áp lực lớn lên ngân sách cấp trên và đòi hỏi huyện phải linh hoạt trong việc huy động nguồn lực phi tiền tệ như đất đai và ngày công.

Nguồn vốn đóng góp của cộng đồng dân cư tại huyện Phú Bình được thể hiện qua các hình thức nào? Đóng góp của người dân không chỉ giới hạn ở tiền mặt mà còn bao gồm hàng nghìn mét vuông đất thổ cư và đất nông nghiệp được hiến tặng để mở rộng đường giao thông, cùng hàng vạn ngày công lao động trực tiếp tham gia xây dựng nhà văn hóa thôn, lắp đặt hệ thống chiếu sáng và kiên cố hóa kênh mương nội đồng.

Tại sao tỷ trọng vốn doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn mới tại huyện Phú Bình còn đạt mức thấp? Nguyên nhân chủ yếu do hạ tầng giao thông kết nối các vùng sản xuất tập trung chưa hoàn toàn đồng bộ, quy mô đất đai bình quân trên mỗi hộ còn manh mún (đất nông nghiệp đạt 14.419,5 ha nhưng chia nhỏ cho nhiều hộ), khiến các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tích tụ ruộng đất để hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn.

Cơ chế phân cấp quản lý nguồn vốn dưới 3 tỷ đồng tại cấp xã mang lại lợi ích gì cho địa phương? Cơ chế này tạo quyền chủ động tối đa cho Ủy ban nhân dân xã và ban phát triển thôn xóm, rút ngắn thời gian phê duyệt hồ sơ từ 2 đến 3 tháng xuống còn vài tuần, đồng thời tăng cường tính dân chủ và phát huy tối đa vai trò giám sát trực tiếp của nhân dân, giúp giảm chi phí xây lắp.

Làm thế nào để huyện Phú Bình ngăn chặn triệt để tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản trong giai đoạn tới? Huyện cần thực hiện nguyên tắc chỉ phê duyệt dự án khi đã cân đối đủ 100% nguồn vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, đồng thời ưu tiên bố trí nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất để thanh toán dứt điểm các khoản nợ cũ trước khi triển khai các công trình xây dựng mới.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn trong chương trình xây dựng nông thôn mới tại vùng trung du miền núi phía Bắc.
  • Đánh giá thực chứng giai đoạn 2017 - 2019 tại huyện Phú Bình khẳng định vai trò trụ cột của vốn ngân sách và tín dụng, đồng thời ghi nhận sự cải thiện vượt bậc về thu nhập của người dân (tăng 1,9 lần) và hạ tầng nông thôn.
  • Chỉ rõ những tồn tại then chốt như sự tham gia hạn chế của khu vực doanh nghiệp (dưới 5%), áp lực nợ đọng xây dựng cơ bản cục bộ và sự chênh lệch phát triển giữa các xã đồng bằng với 7 xã miền núi.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp tài chính mang tính đột phá cho giai đoạn 2021 - 2026, tập trung vào mô hình đối tác công tư (PPP), mở rộng tín dụng ưu đãi và siết chặt kỷ luật thanh quyết toán đầu tư công.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà nghiên cứu kinh tế và các nhà đầu tư trong việc định hình chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn bền vững.