Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH.1 Khái niệm về nguồn tài chính Trong quá trình tuần hoàn của nền kinh tế luôn diễn ra chuyển dịch các luồng giá trị đại diện cho các nguồn tài chính, do đó tạo ra mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị ở lĩnh vực phân phối của cải của xã hội. Nhìn trên bề mặt của các hiện tượng xã hội, tài chính được coi như là sự vận động của các nguồn lực tài chính, là sự vận động của vốn tiền tệ, và là những quỹ tiền tệ của những chủ thể trong xã hội. Như vậy nguồn tài chính thể hiện ở dạng tiền tệ đang vận động trong nền kinh tế quốc dân và còn được luân chuyển theo nhiều kênh trong nền kinh tế bao gồm giá trị của cải của xã hội, tài sản quốc gia, tổng sản phẩm quốc dân ở cả dưới dạng vật chất tiềm năng có khả năng tiền tệ hóa. Các nguồn tài chính hình thành, vận động và chuyển dịch xoay quanh thị trường tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo mục đích của các chủ thể trong xã hội.
Nguồn tài chính là yếu tố cơ bản trong nguồn sức mạnh của nhà nước và có tác dụng chủ đạo trong toàn bộ sức mạnh của nhà nước. Sự vận động của nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những lượng giá trị nhất định, và lượng giá trị này phản ánh những bộ phận khác nhau của của cải xã hội. Trong thực tế nguồn tài chính được nói đến với nhiều tên gọi: vốn tiền tệ, vốn bằng tiền, tiền vốn và những tên gọi riêng trong các trường hợp cụ thể: vốn trong dân, vốn tín dụng, vốn ngân sách,… 1.2 Vốn đầu tư phát triển Quá trình sử dụng tài sản quốc gia sẽ bị hao mòn theo thời gian, nên phải được bù đắp hao mòn và bổ sung mới thêm tài sản do nhu cầu sử dụng ngày càng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tăng để đẩy mạnh phát triển kinh tế. Quá trình này được tiến hành thông qua hoạt động đầu tư, mà hoạt động đầu tư được thực hiện trên cơ sở có vốn.
Như vậy, vốn đầu tư quốc gia được hiểu như là phần vốn bổ sung vào nền kinh tế hàng năm để làm gia tăng tích tụ tài sản, mở rộng thêm quy mô vốn sản xuất. Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế.3 Vai trò của vốn đầu tư 1.1 Vốn là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Trong những năm 30 đã xuất hiện một học thuyết kinh tế mới, đó là học thuyết của J. Ông cho rằng, nền kinh tế có thể đạt tới và duy trì sự cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng.
Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy xu hướng phát triển của nền kinh tế là đưa mức sản lượng thực tế càng về gần mức sản lượng tiềm năng càng tốt. Để có được sự chuyển dịch này thì đầu tư đóng vai trò quyết định. Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 40 hai nhà kinh tế Roy Harrod người Anh và Evsey Domar người Mỹ đã cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước đang phát triển. Mô hình này cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn.
Mô hình này coi đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư cho nó để tạo ra vốn sản xuất cho nền kinh tế.2 Quy mô của vốn sản xuất tích lũy là chìa khóa của sự phát triển kinh tế. Đầu tư là bộ phận lớn và hay thay đổi trong chi tiêu. Do đó những thay đổi trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu mà còn tác động tới sản lượng và công ăn, việc làm. Khi đầu tư tăng lên, có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,…tăng lên.
Sự thay đổi này làm cho đường tổng cầu dịch chuyển. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ngoài ra đầu tư dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là có thêm các nhà máy, thiết bị, phương tiện vận tải mới được đưa vào sản xuất, làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế. Sự thay đổi này tác động đến tổng cung. Như vậy vốn đầu tư bổ sung hàng năm chỉ làm tăng thêm một bộ phận vốn sản xuất.
Mà tổng giá trị đầu ra của nền kinh tế đạt được ở quy mô nào tùy thuộc vào quy mô của vốn sản xuất. Hay nói cách khác, quy mô vốn sản xuất tích lũy được của nền kinh tế ảnh hưởng đến quy mô tổng sản lượng quốc gia. Ngày nay vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất. Vốn sản xuất vừa là yếu tố đầu vào, vừa là sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất.
Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế, mà còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, góp phần đáng kể vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất. Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất. Cuối cùng, cơ cấu sử dụng vốn đầu tư là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.2 NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN ĐẦU TƯ Nguồn tài chính, là nhân tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế của một nước. Trong điều kiện nguồn vốn còn hạn chế, việc huy động các nguồn tiết kiệm từ các chủ thể trong nền kinh tế là rất quan trọng.
Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập thấp thì quy mô và tỷ lệ tiết kiệm đều thấp trong khi yêu cầu của sự phát triển kinh tế ngày càng tăng, đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn. Điều đó đặt ra sự cần thiết phải có nguồn hỗ trợ từ nước ngoài. Mặt khác, trong sự giao lưu quốc tế hiện nay, ngay đối với các nước công nghiệp phát triển vẫn còn có sự kết hợp nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế. Ngày nay các quốc gia đều xem nguồn vốn nước ngoài như là một chìa khóa vàng của sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Như vậy, đối với một quốc gia tiết kiệm có được là tổng số của tiết kiệm trong nước và tiết kiệm ngoài nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước Đây là nguồn vốn cơ bản, thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này, có tính ổn định và bền vững, chi phí sử dụng thấp, giảm thiểu được những rủi ro và những tác động xấu đến nền kinh tế từ các tác nhân bên ngoài. Nguồn vốn trong nước chủ yếu được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể trong nội bộ nền kinh tế bao gồm: tiết kiệm từ ngân sách chính phủ, tiết kiệm của các doanh nghiệp, tiết kiệm của các tầng lớp dân cư.1 Tiết kiệm từ Ngân sách Chính phủ.
Theo tính chất sở hữu, tiết kiệm của Chính phủ bao gồm tiết kiệm của ngân sách nhà nước và tiết kiệm của các công ty nhà nước. Theo tổ chức kinh tế, tiết kiệm của các công ty nhà nước và tiết kiệm của các công ty tư nhân được kết hợp chung là tiết kiệm của các công ty. Do vậy, tiết kiệm chủ yếu của chính phủ là tiết kiệm của ngân sách nhà nước. Về nguyên tắc, tiết kiệm có được khi tổng chi ngân sách nhỏ hơn tổng thu, phần tiết kiệm này hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước.
Như vậy có thể nói nguồn tiết kiệm này phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người. Do đó, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi Nhà nước phải gia tăng tiết kiệm Ngân sách Nhà nước, trên cơ sở kết hợp chính sách thuế hợp lý để tăng nguồn thu và có chính sách chi tiêu một cách khoa học. Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng và ổn định, có tính định hướng cao đối với các nguồn vốn đầu tư khác.2 Tiết kiệm của các doanh nghiệp. Nguồn vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong một công ty cổ phần, lợi nhuận ròng được chia thành hai phần, một phần chia cho các cổ đông, một phần để lại cho công ty và phần này cũng chính là khoản tiết kiệm của công ty. Đây là nguồn vốn cơ bản để doanh nghiệp có thể tái đầu tư mở rộng sản xuất. Do nhu cầu đầu tư ngày càng lớn cho nên các doanh nghiệp khi đầu tư phát triển sử dụng cả khoản tiết kiệm này, cả tiền khấu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hao và có thể thêm nhiều nguồn khác. Vì vậy, quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh, chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, chính sách thuế và các chính sách kinh tế vĩ mô khác.3 Tiết kiệm của các tầng lớp dân cư.
Phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Quy mô của khoản tiết kiệm này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố như: thu nhập bình quân đầu người, lãi suất, chính sách thuế, và các chính sách kinh tế vĩ mô. Nguồn tiết kiệm của tầng lớp dân cư thường rất lớn nhưng lại phân tán, vì vậy để có thể huy động tối đa được nguồn vốn đầu tư này nhất thiết phải có chính sách cho phù hợp.4 Các định chế tài chính trung gian. Đây là những tổ chức làm cầu nối giữa những người cần vốn và những người cung cấp vốn trên thị trường.
Các định chế tài chính trung gian, dù thuộc loại hình nào đi nữa, đều có chung một đặc điểm hoạt động là phát hành các công cụ tài chính để thu hút vốn, sau đó lại đầu tư số vốn này dưới hình thức các khoản cho vay hoặc các chứng khoán.