Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÃ HỘI HOÁ Y TẾ 1. Khái quát chung về công tác xã hội hóa y tế. Khái niệm xã hội hóa y tế Trong những năm gần đây, “xã hội hoá” đã trở thành một định hướng lớn, một giải pháp quan trọng trong việc đổi mới các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá thể thao ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay tính xác định của khái niệm “xã hội hoá” còn nhiều cách hiểu khác nhau.
Điều này cũng có thể hiểu được bởi vì khái niệm này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có những nội hàm hoàn toàn khác nhau. Khái niệm XHH theo nguồn gốc ngôn ngữ học: Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Xã hội hóa là làm cho trở thành của chung của xã hội”, với ví dụ “xã hội hóa tư liệu sản xuất” tức là quốc hữu hóa tư liệu sản xuất. Khái niệm XHH dưới góc độ xã hội học Dưới góc độ xã hội học, XHH được coi là một quá trình gắn với sự phát triển của cá nhân trong xã hội và được định nghĩa: Xã hội hóa là quá trình mỗi người từ khi lọt lòng tới lúc già yếu, thâu nhận những kiến thức, kỹ năng, địa vị, lề thói, quy tắc, giá trị… xã hội và hình thành nhân cách của mình [3]. Dưới góc độ này, khái niệm XHH gắn với sự phát triển nhân cách, học hỏi và tuân thủ các nguyên tắc xã hội của các cá nhân.
Ý nghĩa của cụm từ Xã hội hóa trong các văn bản pháp quy: Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ đã ghi rõ: - XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng 7 bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân - XHH là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. Ở mỗi địa phương, đây là cộng đồng trách nhiệm của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của từng người dân. - XHH là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này.
Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách nhà nước dồi dào vẫn phải thực hiện xã hội hoá, bởi vì giáo dục, y tế, văn hoá là sự nghiệp lâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn của toàn dân. - Xã hội hoá không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước; trái lại, Nhà nước thường xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó. Cũng trong văn bản này, XHH được Chính phủ xác định như là một biện pháp đảm bảo công bằng xã hội: - Thực hiện XHH các hoạt động giáo dục, văn hoá cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội… phải ưu tiên đối với người có công, phải trợ giúp người nghèo, vùng nghèo; người có công, có cống hiến nhiều hơn, được xã hội và Nhà nước chăm lo nhiều hơn… Công bằng xã hội trong việc huy động các nguồn lực của nhân dân vào các hoạt động văn hóa, xã hội. 8 Theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, “Xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhân dân”.
Bản chất của chủ trương xã hội hoá là huy động các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội, trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hoá các hình thức hoạt động và các nguồn đầu tư, đổi mới vai trò và trách nhiệm của Nhà nước, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội và nghề nghiệp. Khái niệm xã hội hóa Y tế Như vậy, dưới góc độ đánh giá chính sách, khái niệm xã hội hóa y tế được hiểu như sau: XHH y tế là hoạt động có sự tham gia bằng các hoạt động và sự đóng góp theo khả năng của mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề, các cá nhân và tổ chức xã hội vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm đạt kết quả cao nhất, công bằng và hiệu quả. Nội dung của xã hội hóa y tế. Chủ trương chính sách XHH y tế Theo định hướng của Đảng và các văn bản pháp lý của Chính phủ, XHH y tế bao gồm 5 nội dung cơ bản sau: - Củng cố vai trò nòng cốt của ngành y tế: Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thực hiện chế độ thu viện phí phù hợp.
Thực hiện tốt việc quản lý nhà nước, quản lý về chuyên môn đối với khu vực ngoài công lập. Từng bước tiến hành BHYT toàn dân. 9 - Đa dạng hoá các hình thức cung cấp dịch vụ CSSKND dưới sự quản lý của Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ y tế ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép về ngân sách cho Nhà nước. - Tổ chức tốt sự tham gia tích cực của người dân trên cả hai mặt hoạt động và đóng góp.
Vận động nhân dân tự giác tham gia các hoạt động chăm sóc sức khoẻ: Các phong trào vệ sinh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh, phòng dịch, xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh… tăng cường sử dụng y học cổ truyền dân tộc, nuôi, trồng các loại cây, con làm thuốc. Nhân dân tham gia đóng góp và chi trả cho các dịch vụ CSSKND thông qua chế độ viện phí. - Tổ chức phối hợp liên ngành vì mục tiêu sức khoẻ cho mọi người. Làm rõ vai trò, nhiệm vụ và tổ chức tốt việc phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể trong việc chăm sóc sức khoẻ người dân.
- Tổ chức tốt việc KCB cho người nghèo. Chính phủ tài trợ một phần, đồng thời khuyến khích hội chữ thập đỏ, các hội từ thiện, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế của Nhà nước và tư nhân đóng góp để xây dựng các qũy trợ giúp cho người nghèo KCB, mua thẻ BHYT cho các gia đình có công với nước và cho người nghèo, hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo. Đối tượng thực hiện XHH y tế. Việc CSSKND không chỉ là công việc của ngành y tế mà còn cần có sự phối hợp và vào cuộc của nhiều ban ngành đoàn thể khác.
XHH y tế là cơ chế huy động sự vào cuộc của các tổ chức đó với các nhiệm vụ cụ thể như sau: - Các cấp chính quyền với vai trò hoàn thiện hệ thống pháp lý, tạo cơ chế thúc đẩy sự tham gia của các ngành các cấp vào việc thực hiện chủ trương XHH y tế như ban hành các văn bản pháp lý, hỗ trợ đi đôi với giám sát ngành y tế triển khai các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cả về phòng bệnh và chữa bệnh; ban hành các văn bản hướng dẫn về vai trò, nhiệm vụ của các ngành, các cấp, các tổ chức cá nhân trong việc thực thi chủ trương XHH y tế… 10 - Các ngành khi triển khai nhiệm vụ của ngành mình phải chú ý đến các vấn đề liên quan đến sức khoẻ nhân dân. Ví dụ: Ngành Giáo dục và Đào tạo đưa chương trình giáo dục sức khoẻ vào giảng dạy, cùng với chương trình y tế nha học đường… - Các cơ quan đoàn thể khác như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh…với các hoạt động xây dựng quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, tổ chức tập huấn về kiến thức nâng cáo sức khoẻ và phòng chống bệnh cho hội viên, vận động hội viên, đoàn viên tham gia các hoạt động giữ gìn, chăm sóc sức khoẻ và phòng chống bệnh tật… 1. Các phương thức huy động nguồn lực tài chính phục vụ công tác hiện xã hội hóa y tế. - Phương thức bảo hiểm y tế: + Khái quát về BHYT: Để bù vào nguồn kinh phí dành cho y tế công lập, năm 1993 Chính phủ đã áp dụng chế độ bảo hiểm y tế chính thức sau một vài năm nghiên cứu thí điểm.
BHYT là một phương thức bảo vệ sức khỏe nhằm bảo vệ người tham gia khỏi những gánh nặng tài chính mà họ phải gánh chịu nếu gặp phải các rủi ro liên quan đến sức khỏe, bệnh tật. Theo luật BHYT Việt nam, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của luật BHYT. Theo đó, BHYT giống như loại hình bảo hiểm khác dựa trên nguyên tắc cơ bản: Tập hợp số đông chia sẻ rủi ro, nguy cơ về sức khỏe và bệnh tật: Thu phí từ số đông người khỏe mạnh để chi trả cho số ít những người ốm đau. Người tham gia bảo hiểm y tế đóng góp một mức phí từ trước khi đau ốm vào một quỹ BHYT và sẽ được hưởng các quyền lợi về chăm sóc y tế khi đến các cơ sở khám chữa bệnh.
Vì vậy, cách thức tham gia BHYT còn được gọi là trả trước chi phí khám chữa bệnh.