Quản lý Hướng nghiệp Phân luồng Học sinh THCS tại Trung Tâm GDTX Bắc Kạn

Quản lý hoạt động hướng nghiệp tại trung tâm GDTX-GDTN Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS. Giải pháp nâng cao hiệu quả, định hướng tương lai.

Chuyên ngành

Quản lý Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2019

119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Trên thế giới

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý giáo dục

1.2.2. Giáo dục hướng nghiệp

1.2.3. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp

1.2.4. Phân luồng học sinh sau THCS

1.3. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.3.1. Mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.3.2. Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.4.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.4.2. Quản lý nội dung giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.4.3. Quản lý các hình thức giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

1.4.4. Quản lý việc kiểm tra đánh giá giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau Trung học cơ sở

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

1.5.1. Yếu tố chủ quan

1.5.2. Yếu tố khách quan

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRUNG TÂM GDTX - GDHN TỈNH BẮC KẠN

2.1. Vài nét về Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

2.2. Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Kạn

2.3. Tình hình công tác giáo dục tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn

2.4. Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng

2.4.1. Mục đích khảo sát

2.4.2. Nội dung khảo sát

2.4.3. Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu

2.5. Kết quả khảo sát thực trạng

2.5.1. Thực trạng hoạt động hướng nghiệp tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

2.5.2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRUNG TÂM GDTX-GDHN TỈNH BẮC KẠN

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo chất lượng và tính hiệu quả

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn theo hướng phân luồng học sinh sau THCS

3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS

3.2.2. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp của Trung tâm

3.2.3. Đổi mới hình thức và phương pháp GDHN theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS, lồng ghép GDHN thông qua dạy Nghề phổ thông

3.2.4. Tăng cường đầu tư và quản lý cơ sở vật chất phục vụ GDHN theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS

3.2.5. Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN theo hướng phân luồng cho học sinh sau THCS tại các trường THCS, Trung tâm

3.3. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

3.3.1. Các bước tiến hành khảo nghiệm

3.3.2. Kết quả khảo nghiệm

3.3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hướng nghiệp THCS Bắc Kạn Tổng quan Tầm quan trọng

Công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh THCS ở Bắc Kạn giữ vai trò chiến lược trong việc định hình nguồn nhân lực tương lai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhận thức rõ điều này, Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn đã và đang triển khai nhiều hoạt động nhằm nâng cao chất lượng công tác này. Theo định hướng của đề án hướng nghiệp của chính phủ, cụ thể là Quyết định số 522/QĐ-TTg, mục tiêu là tạo ra bước đột phá về chất lượng giáo dục hướng nghiệp, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác phân luồng sau THCS. Điều này không chỉ giúp học sinh chọn nghề cho tương lai phù hợp với năng lực, sở trường mà còn điều tiết hợp lý cơ cấu lao động, tránh tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Hoạt động hướng nghiệp không đơn thuần là cung cấp thông tin, mà là một quá trình giáo dục toàn diện, tác động đến nhận thức của học sinh, phụ huynh và toàn xã hội. Quá trình này bao gồm việc trang bị kiến thức về thế giới nghề nghiệp, tư vấn tâm lý, giúp học sinh tự đánh giá bản thân và đối chiếu với yêu cầu của thị trường lao động. Tại Bắc Kạn, một tỉnh miền núi với những đặc thù riêng, việc phân luồng sớm sau lớp 9 mang ý nghĩa cực kỳ quan trọng, mở ra con đường học tập đa dạng: học tiếp THPT, học bổ túc, hoặc theo học tại các trường trung cấp nghề ở Bắc Kạn.

1.1. Mục tiêu của đề án giáo dục hướng nghiệp quốc gia

Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025” (theo Quyết định 522/QĐ-TTg) đặt ra mục tiêu rõ ràng: thay đổi nhận thức của xã hội về giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn và trên cả nước. Mục tiêu cốt lõi là đảm bảo học sinh sau khi tốt nghiệp THCS có những lựa chọn phù hợp. Các em có thể tiếp tục học lên THPT, hoặc chuyển sang học các chương trình giáo dục nghề nghiệp để sớm tham gia vào thị trường lao động Bắc Kạn. Đề án nhấn mạnh việc xây dựng một mô hình hướng nghiệp hiệu quả, kết hợp giữa nhà trường, gia đình và doanh nghiệp. Hoạt động này phải dựa trên cơ sở khoa học, xem xét cả tâm lý học sinh THCS chọn nghề lẫn nhu cầu thực tiễn của xã hội, thay vì chạy theo xu hướng bằng cấp một cách cảm tính.

1.2. Ý nghĩa của việc phân luồng học sinh sau THCS

Phân luồng sau THCS là một biện pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa nguồn lực giáo dục và xã hội. Thay vì tập trung toàn bộ học sinh vào con đường THPT rồi Đại học, việc phân luồng giúp các em có năng lực và sở thích khác nhau tìm được hướng đi phù hợp. Đối với những học sinh không có nguyện vọng hoặc năng lực theo đuổi con đường học thuật, việc học nghề sau lớp 9 là một lựa chọn tối ưu. Lựa chọn này không chỉ giúp các em rút ngắn thời gian đào tạo, sớm có tay nghề và tự lập mà còn cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động kỹ thuật lành nghề. Đây là yếu tố then chốt để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại một địa phương như Bắc Kạn.

II. Phân luồng học sinh ở Bắc Kạn Thực trạng và thách thức

Mặc dù chủ trương là đúng đắn, thực trạng phân luồng học sinh sau THCS tại Bắc Kạn vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Một nghiên cứu thực hiện tại Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn và các trường THCS trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, huyện Bạch Thông cho thấy nhiều tồn tại cần khắc phục. Thách thức lớn nhất đến từ nhận thức của xã hội. Tâm lý trọng bằng cấp vẫn còn nặng nề trong nhiều gia đình, dẫn đến việc đa số học sinh và phụ huynh xem việc vào THPT công lập là con đường duy nhất. Điều này tạo áp lực lớn lên hệ thống giáo dục và chính các em học sinh. Các hoạt động tư vấn hướng nghiệp Bắc Kạn đôi khi còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào việc phân tích năng lực cá nhân và nhu cầu của thị trường lao động Bắc Kạn. Công tác quản lý hoạt động này còn bộc lộ một số hạn chế, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan như nhà trường, gia đình, doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học nghề phổ thông còn thiếu thốn, chưa đủ hấp dẫn để thu hút học sinh tham gia.

2.1. Phân tích thực trạng nguyện vọng sau tốt nghiệp THCS

Số liệu khảo sát nguyện vọng của học sinh lớp 9 tại thành phố Bắc Kạn và huyện Bạch Thông cho thấy một bức tranh rõ nét về xu hướng lựa chọn. Đa số học sinh vẫn có nguyện vọng thi vào THPT. Tỷ lệ học sinh lựa chọn con đường học nghề sau lớp 9 hoặc học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên Bắc Kạn còn khiêm tốn. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc thiếu thông tin về các ngành nghề, cơ hội việc làm và lộ trình phát triển sự nghiệp sau khi học nghề. Nhiều em chưa hình dung được con đường học liên thông từ trung cấp lên cao đẳng, đại học. Thực tế này đòi hỏi công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh cấp 2 phải được đầu tư bài bản và thực chất hơn nữa.

2.2. Rào cản từ tâm lý học sinh và định kiến xã hội

Tâm lý học sinh THCS chọn nghề bị ảnh hưởng lớn bởi gia đình và bạn bè. Nhiều phụ huynh vẫn giữ quan niệm rằng học nghề là lựa chọn dành cho học sinh học lực yếu, kém. Định kiến này vô hình trung tạo ra một rào cản tâm lý, khiến các em có năng lực phù hợp với học nghề cảm thấy tự ti và không dám theo đuổi đam mê. Công tác truyền thông cần nhấn mạnh rằng học nghề là một con đường song song, có giá trị riêng và mang lại nhiều cơ hội thành công, không hề thua kém con đường học thuật. Phá bỏ định kiến này là nhiệm vụ quan trọng để công tác phân luồng học sinh THCS ở Bắc Kạn đạt hiệu quả.

III. Phương pháp nâng cao nhận thức hướng nghiệp THCS Bắc Kạn

Để giải quyết các thách thức, biện pháp quan trọng hàng đầu là nâng cao nhận thức cho tất cả các bên liên quan. Đây là một quá trình đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ và kiên trì. Hoạt động này không chỉ nhắm đến học sinh mà còn phải tác động mạnh mẽ đến phụ huynh, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn cần đóng vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và triển khai các chương trình truyền thông sâu rộng. Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào việc làm rõ lợi ích của việc phân luồng sau THCS, giới thiệu các mô hình hướng nghiệp hiệu quả và những tấm gương thành công từ con đường học nghề. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm với sự tham gia của các chuyên gia hướng nghiệp, đại diện doanh nghiệp và cựu học viên thành đạt từ các trường nghề sẽ mang lại hiệu quả thiết thực. Thay đổi nhận thức là nền tảng để thay đổi hành vi, từ đó giúp học sinh có những quyết định chọn nghề cho tương lai một cách sáng suốt và tự tin hơn, phù hợp với năng lực bản thân và xu thế phát triển của tỉnh.

3.1. Tăng cường tuyên truyền cho phụ huynh và học sinh

Công tác tuyên truyền cần được thực hiện một cách đa dạng và thường xuyên. Nhà trường cần tổ chức các buổi họp phụ huynh chuyên đề về định hướng nghề nghiệp cho học sinh cấp 2. Trong các buổi họp này, cần cung cấp thông tin cụ thể về hệ thống giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn, chính sách miễn giảm học phí, cơ hội việc làm sau tốt nghiệp và khả năng học liên thông. Đối với học sinh, các hoạt động ngoại khóa, các cuộc thi tìm hiểu nghề nghiệp, các buổi tham quan thực tế tại doanh nghiệp và các trường trung cấp nghề ở Bắc Kạn sẽ giúp các em có cái nhìn trực quan, sinh động về thế giới nghề nghiệp, từ đó khơi dậy hứng thú và định hướng rõ ràng hơn.

3.2. Nâng cao vai trò của giáo viên trong hướng nghiệp

Vai trò của giáo viên trong hướng nghiệp, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm, là cực kỳ quan trọng. Họ là những người gần gũi, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng và năng lực của từng học sinh. Do đó, cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác tư vấn hướng nghiệp Bắc Kạn cho đội ngũ giáo viên. Giáo viên cần được trang bị kiến thức về thị trường lao động, kỹ năng tư vấn, và các công cụ đánh giá sở thích, năng lực nghề nghiệp. Khi mỗi giáo viên trở thành một nhà tư vấn tin cậy, công tác hướng nghiệp tại cơ sở sẽ trở nên hiệu quả và đi vào chiều sâu.

IV. Bí quyết đổi mới hình thức giáo dục hướng nghiệp hiệu quả

Bên cạnh việc nâng cao nhận thức, đổi mới hình thức và phương pháp tổ chức là yếu tố then chốt để công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh THCS ở Bắc Kạn thực sự hấp dẫn và hiệu quả. Các hoạt động cần thoát khỏi lối mòn lý thuyết, thay vào đó là tăng cường trải nghiệm thực tế và ứng dụng công nghệ. Một mô hình hướng nghiệp hiệu quả cần tích hợp nhiều hoạt động đa dạng. Chẳng hạn, lồng ghép nội dung hướng nghiệp vào các môn học chính khóa, tổ chức các câu lạc bộ nghề nghiệp, ngày hội hướng nghiệp, và xây dựng các phòng tư vấn tâm lý - hướng nghiệp chuyên nghiệp tại trường. Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn cần chỉ đạo các đơn vị, đặc biệt là Trung tâm GDTX-GDHN tỉnh Bắc Kạn, tiên phong trong việc áp dụng các phương pháp mới. Sự đầu tư bài bản vào cơ sở vật chất và chương trình giảng dạy sẽ tạo ra một môi trường giáo dục hướng nghiệp năng động, giúp học sinh chủ động khám phá bản thân và tự tin đưa ra quyết định cho tương lai của mình.

4.1. Tích hợp hoạt động trải nghiệm và tham quan thực tế

Phương pháp hiệu quả nhất để định hướng nghề nghiệp cho học sinh cấp 2 là cho các em “mắt thấy, tai nghe, tay làm”. Cần tăng cường tổ chức các chuyến tham quan đến các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Các chương trình “Một ngày làm thợ”, “Học kỳ doanh nghiệp” sẽ giúp học sinh có những trải nghiệm chân thực về môi trường lao động. Qua đó, các em không chỉ hiểu về yêu cầu của từng ngành nghề mà còn có cơ hội đối chiếu năng lực, sở thích của bản thân với thực tế, từ đó đưa ra lựa chọn học nghề sau lớp 9 một cách có cơ sở.

4.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề

Để công tác giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn phát triển, việc đầu tư vào cơ sở vật chất (CSVC) là yêu cầu cấp thiết. Các trường THCS và trung tâm giáo dục thường xuyên Bắc Kạn cần được trang bị thêm các phòng thực hành, xưởng thực tập với máy móc, thiết bị hiện đại. CSVC tốt không chỉ nâng cao chất lượng dạy và học nghề phổ thông mà còn tạo ra sự hấp dẫn, thu hút học sinh tham gia. Đây là nền tảng vật chất quan trọng để hiện thực hóa chủ trương phân luồng sau THCS, biến các trường nghề thành lựa chọn hấp dẫn và đáng tin cậy trong mắt phụ huynh và học sinh.

V. Hướng đi tương lai cho phân luồng học sinh tại Bắc Kạn

Để công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh THCS ở Bắc Kạn phát triển bền vững, cần có một tầm nhìn dài hạn và các giải pháp đồng bộ. Hướng đi tương lai phải gắn chặt chẽ giữa giáo dục với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc đào tạo cần bám sát vào quy hoạch phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh như nông lâm nghiệp, chế biến khoáng sản, du lịch. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Kạn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, và các doanh nghiệp trên địa bàn. Cần xây dựng một cơ chế “đặt hàng” đào tạo từ doanh nghiệp, đảm bảo đầu ra cho học viên các trường nghề. Khi học sinh và phụ huynh thấy rõ con đường sự nghiệp và cơ hội việc làm rộng mở sau khi học nghề sau lớp 9, tâm lý xã hội sẽ dần thay đổi. Tương lai của công tác phân luồng phụ thuộc vào việc xây dựng một hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt và liên thông, nơi mỗi học sinh đều có cơ hội phát triển tối đa tiềm năng của mình.

5.1. Gắn kết đào tạo với nhu cầu thị trường lao động Bắc Kạn

Sự thành công của công tác phân luồng được đo lường bằng tỷ lệ học sinh có việc làm đúng ngành nghề sau đào tạo. Do đó, các chương trình đào tạo tại các trường trung cấp nghề ở Bắc Kạn phải được xây dựng dựa trên khảo sát và dự báo nhu cầu của thị trường lao động Bắc Kạn. Cần tăng cường mối liên kết “3 nhà”: Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, giảng dạy và đánh giá kết quả học tập. Ngược lại, nhà trường cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đúng yêu cầu của doanh nghiệp. Mối quan hệ cộng sinh này là chìa khóa để nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục nghề nghiệp tỉnh Bắc Kạn.

5.2. Khuyến nghị và giải pháp từ các nghiên cứu thực tiễn

Từ các nghiên cứu thực tiễn, một số khuyến nghị quan trọng được đưa ra. Thứ nhất, cần có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa cho học sinh theo học nghề, không chỉ về học phí mà còn về ký túc xá, giới thiệu việc làm. Thứ hai, cần xây dựng một hệ thống thông tin hướng nghiệp tập trung, cập nhật và dễ dàng truy cập cho học sinh, phụ huynh. Thứ ba, cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả của công tác tư vấn hướng nghiệp Bắc Kạn tại các trường để kịp thời điều chỉnh. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, giúp công tác phân luồng học sinh sau THCS tại Bắc Kạn đạt được các mục tiêu mà đề án hướng nghiệp của chính phủ đã đề ra.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH SAU THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Vấn đề hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng cũng như công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp theo hướng phân luồng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Quản lý hoạt động hướng nghiệp dựa trên những đặc điểm tâm lý, nhân cách, bao gồm lý thuyết của Frank Parsons mang tên Nhân cách và yếu tố, lý thuyết của Jonh Holland và lý thuyết nhu cầu của Ann Roes [dẫn theo 30, tr 26 - 64] và K.

Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân [28]. Đại diện đầu tiên của trường phái này là F.Parsons (1909), ông cho rằng, GDHN nhằm giúp những cá nhân nhận thức về đặc điểm từng nghề của thế giới nghề, sau đó kết hợp những đặc điểm nhân cách cá nhân với đặc điểm của nghề, từ đó có hành vi lựa chọn được nghề phù hợp. Williamson (1939, 1965) tiếp tục lý thuyết của F.Parson và phát triển một thang đo có tên là thang đánh giá nghề nghiệp (Minnesota Occupational Rating Scales) nhằm phục vụ cho việc quản lý, đo lường hoạt động GDHN. Theo các tác giả trên, việc tiến hành làm các trắc nghiệm được coi là một việc làm quan trọng và cơ bản nhất, từ kết quả trắc nghiệm, người làm công tác hướng nghiệp đưa ra lời khuyên cá nhân nên chọn nghề nào phù hợp.Platonop (1960) [dẫn theo 14, tr80] với quan niệm quản lý hoạt động GDHN cần dựa vào “Tam giác hướng nghiệp”.

Ba cạnh của hướng nghiệp được xác định là (1) đặc điểm, yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội, (2) nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, (3) đặc điểm về nhân cách, tâm sinh lý của cá nhân. Khi cá nhân tìm được sự phù hợp cả ba cạnh của tam giác, khi đó tìm được sự lựa chọn nghề tối ưu. Quản lý hoạt động GDHN dựa trên quá trình phát triển liên tục cả đời người. Những nghiên cưu này tập trung vào tìm hiểu các giai đoạn thay đổi trong cuộc sống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn con người và ảnh hưởng của những thay đổi trong giai đoạn phát triển của con người đến quyết định lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân.

Ví dụ như Eli Ginzberg (1951, 1972) cho rằng quá trình lựa chọn nghề nghiệp là một quá trình mở và kéo dài suốt cuộc đời, việc thay đổi có thể diễn ra bất cứ lúc nào trong cuộc đời. Donald Super không nhấn mạnh khái niệm lựa chọn nghề nghiệp mà tập trung nhấn mạnh khái niệm phát triển nghề nghiệp. Các tác giả của trường phái này rất coi trọng “cái tôi” trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân, cái tôi của cá nhân đó sẽ được thể hiện một cách rõ rệt trong các giai đoạn của cuộc đời [29, tr6]. Do vậy, quản lý hoạt động GDHN cần căn cứ theo đặc điểm phát triển liên tục, cái tôi riêng có của các cá nhân…v.A Kruchetxki với hướng tiếp cận chủ yếu tập trung vào “QL hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà HS quan tâm”.

Gần đây, GDHN đã được luật pháp quy định cụ thể ở cộng hòa Pháp. Năm 2010, Châu Âu nhấn mạnh đến việc QL tốt hệ thống GDHN và dạy nghề thông qua đáp ứng nhu cầu của cá nhân và TTLĐ, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác này, đảm bảo chất lượng GDHN cấp quốc gia, cải thiện xã hội hóa công tác này. Cash chỉ ra mô hình DOTS gồm khung cơ bản của tư vấn và hướng nghiệp (giáo dục nghề nghiệp) (Mc. Cash, 2006), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức.

Ông đã miêu tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng. Luật sửa đổi (2006) đưa ra cách tiếp cận mới “một bộ đề xuất các cải cách để chúng ta có thể giúp học sinh phổ thông và đại học học cách quản lí cuộc sống của [27]. Các tác giả nước ngoài trên đều khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý GDHN để đạt mục đích GDHN. Nội dung quản lý GDHN là xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ hoạt động GDHN.

Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ thông cần phải dựa trên những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn đánh giá thận trọng về điểm mạnh và điểm yếu của học sinh. Nói cách khác, hướng nghiệp đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai. Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên môn để giúp học sinh lựa chọn khóa học thích hợp (có tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết. Trong giáo dục phổ thông và GDHN, các nước đều giảm thời lượng hàn lâm mà chú trọng tính thực tiễn nhiều hơn (Ba Lan, Đức và Pháp).

Về vấn đề phân luồng: Ion Holban đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại các kiểu nhân cách và sở thích nghề nghiệp tương ứng. Công trình của tác giả được xem là căn cứ trong việc đề xuất công tác phân luồng học sinh trong chọn nghề sau tốt nghiệp [11]. Ở Pháp phân hóa hẹp sau trung học cao trung, phân hóa cấp 2,3 theo hướng phân ban, phân chia 50/50 theo luồng phổ thông và kĩ thuật, nghề kĩ thuật dạy theo mô đun gồm 6 lĩnh vực như: Kĩ thuật nghề, Toán, Khoa học, Thế giới, Quốc ngữ, Ngoại ngữ; Ba Lan chú trọng đến phân hóa rộng nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực. Ở Đức, các nhà sư phạm quan tâm đến cơ sở khoa học dạy học lao động nghề nghiệp, phối hợp giữa trường phổ thông và các trung tâm kĩ thuật tổng hợp để lập kế hoạch thực tập cho học sinh, xác lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại học sinh hướng nghiệp ngay sau bậc tiểu học, sau lớp 10 học sinh được chia 2 nhánh loại học trở thành công nhân lành nghề, loại học hết lớp 12 phổ thông, sau lớp 12 lại được tiếp tục phân loại lần nữa hoặc vào đại học hoặc vào trung cấp nghề.

Liên bang Nga đưa nội dung đào tạo miễn phí sơ cấp nghề vào giáo dục trung học (3 năm), đề cập đến liên thông trong giáo dục nghề nghiệp (sơ cấp, trung cấp và đại học), chú trọng đến giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp. Các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học cơ sở, hầu hết các nước PLHS theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THCS, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn cấp nghề (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc). Tích hợp các môn hướng nghiệp và giáo dục phổ thông, các môn văn hóa, khoa học kỹ thuật, lao động (Trung Quốc, Philippine); Chú trọng đến năng lực thực hành và nghiên cứu thực tiễn trong hoạt động GDHN (Philippine, Malaysia); Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THCS (Nhật, Hàn). Ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

Cụ thể: Tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông [10]. Tác giả Vũ Ngọc Hải, Trần khánh Đức đã đề cập đến việc dạy nghề ban đầu cho học sinh phổ thông trung học kỹ thuật Việt Nam và xác định: Nội dung, hình thức phương pháp dạy nghề ban đầu cho học sinh lớp 10,11 trường phổ thông trung học kỹ thuật theo nhóm nghề xây dựng, các phương pháp và hình thức dạy sản xuất trong các trường dạy nghề xây dựng được sử dụng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và nội dung ở trường phổ thông trung học kỹ thuật ở nước ta [8]. Tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định cần xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật đó là một nền giáo dục cần được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ, trong đó ưu tiên giáo dục nghề nghiệp [7].

Tác giả Phạm Tất Dong trong các công trình nghiên cứu của mình đã đề cập đến cơ sở lí luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, những vấn đề chung về nội dung và phương pháp hướng nghiệp cho học sinh. Từ đó tác giả đề xuất phải chú trọng việc hình thành năng lực cho thế hệ trẻ để học tự tìm ra việc làm cho mình [5]. Các công trình trên cho thấy rằng, các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp, lao động sản xuất, và dạy kỹ thuật nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Nhưng các công trình nghiên cứu kể trên phần lớn tập trung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn vào việc đổi mới tư tưởng, quan điểm và một số mặt về nội dung, chương trình, tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề cho học sinh phổ thông trong điều kiện nền kinh tế - xã hội ở các nước phát triển cao hơn nước ta.

GDNN ở Việt Nam một số năm vừa qua đã từng bước được củng cố và phát triển về quy mô và cơ cấu đào tạo. Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ