Đặt vấn đề Trong những năm gần đây kinh tế nước ta dần dần đi lên để hội nhập vào nền kinh tế trong khu vực và thế giới, hiện nay với nhiều mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu như: Cà phê, tiêu, điều, cao su, gạo sản xuất nông nghiệp đã đóng góp một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cùng với những thành tựu to lớn đạt được trong sản xuất nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội nghề trồng hoa và thú chơi hoa trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức những loại hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn. Đất nước ta được thiên nhiên ưu đãi về các yếu tố địa lý, khí hậu cũng như nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng, rất thích hợp với việc trồng phong lan trong đó có rất nhiều loài lan quý. Hiện nay nhu cầu về hoa lan trên thế giới rất cao, nghề nuôi trồng hoa lan đã trở thành một bộ phận chủ yếu nhất của ngành trồng hoa cảnh xuất khẩu của nhiều nước.
Trong nước ta đã có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu về lan, có những công ty trồng lan để bán trong nước và xuất khẩu. Do đó nếu chúng ta biết bảo vệ các loài lan hiện có và mở rộng việc trồng lan cùng với sự giao lưu, trao đổi những giống lan quý với các nước bạn thì giá trị khoa học cũng như giá trị kinh tế của các loài lan ở nước ta sẽ tăng lên đáng kể. Ở Việt Nam phong lan được phân bố chủ yếu tại vùng rừng, núi các tỉnh Thái Nguyên, Cao bằng, Lào Cai, Huế, Hải Vân, Quy nhơn, Kontum, Pleiku, Đắc Lắc, Đà lạt, Nam Cát Tiên. Trong những năm gần đây do sự hội nhập kinh tế, đầu tư phát triển công nghiệp, đô thị và du lịch với tốc độ cao, nhu cầu về hoa cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu gia tăng mạnh.
Hoa, cây cảnh mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người trồng hoa, đồng thời thúc đẩy du lịch, hội nhập và đời sống văn hóa tinh thần của quốc gia. Trong h 2 đó hoa lan là mặt hàng có giá trị kinh tế và khoa học cao lên rất được ưa chuộng trên thế giới. Để tìm hiểu một số kỹ thuật gây trồng và chăm sóc kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại của các loài lan, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Gây trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại lan Hoàng thảo Trúc đen (Dendrobium hancockii), Cẩm báo (Vandopsis parishii), Vanda Vân bắc (Vanda concolor), tại vườn lan Hồ Núi Cốc”. Mục tiêu nghiên cứu Thực hiện gây trồng lan Hoàng thảo Trúc đen, Cẩm báo, Vanda Vân bắc.
Xác định được khả năng sinh trưởng của lan Hoàng thảo Trúc đen, Cẩm báo, Vanda Vân bắc và các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại trên 3 loại lan. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa khoa học Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và nhân giống loài lan Hoàng thảo Trúc đen, Cẩm báo, Vanda vân bắc và các loài lan cùng chi nói chung. Phát triển thêm các kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên 1 số loại lan cụ thể.Ý nghĩa thực tế Qua quá trình nghiên cứu có thể tìm ra những phương pháp cụ thể để gây giống, chăm sóc, phòng trừ bệnh cho cây phong lan. Qua quá trình thu thập số liệu giúp tôi học hỏi và làm quen với thực tế sản xuất và khoa học.
Làm cơ sở và tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan. Bổ sung, củng cố kiến thức chuyên môn Giúp tôi hiểu thêm các kỹ thuật gây trồng và chăm sóc lan: Hoàng thảo Trúc đen, Cẩm báo, Vanda vân bắc, trong khu vực nghiên cứu. h 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đặc điểm đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài.
Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Sách đỏ Việt Nam (2007) [13] phần II thực vật, đã công bố Việt Nam có 66 loài lan thuộc nhóm bị đe doạ, gồm: 4 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Rất nguy cấp – CR 52 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Nguy cấp – EN 10 loài lan có nguy cơ tuyệt chủng ở phân hạng: Sẽ nguy cấp -VU Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [11]: Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Đã đưa vào phụ lục dang lục quản lý một số loài thực vật và động vật rừng quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt củng cao.
Đặc biệt có một số loài lan thuộc nhóm IA (Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) Gồm: Tất cả các loài trong chi Lan kim tuyến - Anoectochilus spp. Tất cả các loài trong chi Lan hài - Paphiopedilum spp. Tất cả các loài trong chi Lan một lá - Nervilia spp và một số loài lan thuộc chi Dendrobium. h 4 Cơ sở chăm sóc và gây trồng Một trong những đặc điểm sinh học đặc trưng của lan là có khả năng chịu cớm cao, ưa ẩm và bóng râm, nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm năng suất và phẩm chất.
Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào, đặc biệt "kỵ" với nắng quái chiều và gió tây (gió Lào). Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) cho toàn bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm "2 ướt 1 khô" trong ngày, đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn. Lượng nước vừa đủ để làm mát cây, ướt rễ và dự trữ. Cần loại bỏ ngay những lá già để ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ đã hết chức năng hấp thụ hơi nước và cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây.
Không nên dùng NPK loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực để bón cho lan. Để cây tươi lâu, đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) với nước gạo mới vo, nước ngâm tro và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp). Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải cotton) nhúng vào dung dịch glycerin 10-15% cuốn vào cổ rễ để giữ ẩm cho cây [21]. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới Tổng quan về công tác bảo tồn nguồn gen Sự suy thoái nhanh chóng của diện tích rừng nhiệt đới trên toàn cầu với tốc độ ước tính khoảng 12,6 triệu ha mỗi năm, tương đương 0,7% tổng diện tích rừng nhiệt đới (FAO, 2001) đã gây ra những tác hại to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường. Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới (Kanowski và Boshier, 1997) nên sự suy thoái về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy h 5 giảm tính ĐDSH. Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu. Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên.
Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học (FAO, 1983). Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài. Đặc điểm của nguồn gen các loài lan rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chưa có ích hoặc chưa biết giá trị sử dụng của chúng, số loài được gây trồng và sử dụng không nhiều. Nên ngoài nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen các loài lan rừng còn có n t đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên.
Phải có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính. Giữa bảo tồn nguồn gen với bảo vệ thiên nhiên tuy có quan hệ mật thiết với nhau, song lại có sự phân biệt quan trọng. Bảo tồn thiên nhiên là nhằm bảo vệ các diện tích đại diện cho các sinh cảnh và các quần xã, những đối tượng có thể phân định được. Còn bảo tồn nguồn gen thì đi xa hơn, nó quan tâm đến những khác biệt di truyền, những cái chỉ có thể đoán định chứ không thể phân biệt được.
Tổng quan về các loài lan Hoa lan là nguồn tài nguyên, là vẻ đẹp tôn quý của thiên nhiên ban tặng cho con người, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội nghề trồng hoa và thú chơi hoa trong những năm gần đây dần đi theo chiều sâu, thưởng thức h 6 những loại hoa có chất lượng cao và có giá trị kinh tế lớn. Trong các loài hoa, hoa lan đang có nhu cầu của nhiều thị trường trong và ngoài nước. Đặc điểm thực vật Họ Lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ Lan Orchidales, lớp thực vật một lá mầm. Lan thuộc vào loài hoa đông đảo với khoảng 750 loài và hơn 25.000 giống nguyên thủy và khoảng một triệu giống đã được lai giống nhân tạo hay thiên tạo, hoa lan (Orchidaceae) là một loài hoa đông đảo vào bậc thứ nhì sau hoa cúc (Asteraceae).
Người ta thường gọi lầm tất cả các loại hoa lan là phong lan. Hoa lan mọc ở các điều kiện, giá thể khác nhau và được chia làm 4 loại: 1. Epiphytes: Phong lan bám vào cành hay thân cây gỗ đang sống. Terestrials: Địa lan mọc dưới đất.
Lithophytes: Thạch lan mọc ở các kẽ đá. Saprophytes: Loại lan mọc trên lớp rêu hay gỗ mục.