mở đầu một việc gì4. Còn “kiện” được giải thích là yêu cầu xét xử việc người khác đã làm thiệt hại đến mình5. Từ đó, có thể hiểu “đơn khởi 1 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.
2 Nguyễn Lân (2004), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr. 3 Viện Ngôn ngữ học (2018), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hồ Chí Minh, tr.
4 Viện Ngôn ngữ học (2018), tlđd (3), tr. 5 Viện Ngôn ngữ học (2018), tlđd (3), tr. 9 kiện” là văn bản trình bày yêu cầu Tòa án xét xử khi bị xâm phạm đến quyền lợi. Từ điển Luật học định nghĩa cũng có định nghĩa về đơn khởi kiện, theo đó: Đơn khởi kiện là đơn của nguyên đơn yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình.
Nội dung của đơn khởi kiện phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của nguyên đơn, của bị đơn, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nội dung sự việc, yêu cầu và các tài liệu, lí lẽ chứng minh cho yêu cầu đó. Đơn khởi kiện được người khởi kiện gửi trực tiếp đến Tòa án, văn bản khởi kiện của tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung cũng được coi là đơn khởi kiện6. Từ những phân tích trên, dưới góc góc độ ngữ nghĩa, có thể hiểu, “trả lại đơn khởi kiện” là việc Tòa án không nhận văn bản yêu cầu xét xử của người khởi kiện gởi đến. Mặt khác, theo định nghĩa của sách Thuật ngữ pháp lý, “Trả lại đơn khởi kiện” là trường hợp “Tòa án nhận đơn khởi kiện nhưng không giải quyết vụ kiện mà trả lại đơn cho người nộp đơn, trong những trường hợp do pháp luật quy định…”7.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, “Trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án đưa lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện vì không đủ điều kiện thụ lý vụ án dân sự. Việc trả lại đơn khởi kiện được tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án…”8. Từ điển luật học cũng định nghĩa: Trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án nhân dân sau khi xem xét, nếu thấy có một trong các căn cứ sau đây thì trả lại đơn khởi kiện: Người nộp đơn không có quyền khởi kiện, thời hiệu đã hết, sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật; sự việc được quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước nhưng đương sự chưa yêu cầu hoặc cơ quan hữu quan chưa giải quyết; sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án9. 6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 7 Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ pháp lý, Nxb. Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, tr. 8 Trường Đại học Luật Hà Nội, (6), tr.243 9 Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư Pháp (1999), Từ điển Luật học, Nxb.
Từ điển bách khoa Hà Nội, Hà Nội, tr. 10 Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội không đưa ra một định nghĩa cụ thể nhưng cũng có đôi dòng viết về trả lại đơn khởi kiện “Khi xem xét thụ lý vụ án, nếu thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lý được vụ án thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ tài liệu kèm theo cho người khởi kiện”10. Tuy đây không rõ ràng là định nghĩa về trả lại đơn khởi kiện nhưng cũng hình thành những ý cơ bản về trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án không thể thụ lý được vụ án. Theo quan điểm của một tác giả, “Trả lại đơn khởi kiện là hành vi tố tụng của Tòa án, theo đó Tòa án từ chối quyền khởi kiện vụ án dân sự của người khởi kiện khi có căn cứ trả lại đơn mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Kể từ thời điểm trả lại đơn khởi kiện cũng chấm dứt mọi trách nhiệm về mặt tố tụng của Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện”11. Ở đây, tác giả cho rằng trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án từ chối quyền khởi kiện vụ án dân sự của người khởi kiện. Quan điểm này không sai, nhưng theo quan điểm cá nhân thì cách dùng cụm từ “từ chối quyền khởi kiện vụ án dân sự của người khởi kiện” là quá rộng, vì quyền khởi kiện được cụ thể hóa thành đơn khởi kiện, có thể người khởi kiện có quyền khởi kiện nhưng họ không làm đơn khởi kiện, thì Tòa án cũng không thể trả lại đơn khởi kiện. Tóm lại, qua việc tìm hiểu về nghĩa của cụm từ “Trả lại đơn khởi kiện” trong từ điển, các từ điển luật học và quan điểm của giáo trình và tác giả khác, tác giả nhận thấy, có nhiều sự giải thích về nghĩa của cụm từ này nhưng cũng có một số điểm chung về trả lại đơn khởi kiện là chủ thể trả lại đơn khởi kiện là Tòa án, trả lại đơn khởi kiện phải dựa theo căn cứ do pháp luật quy định và đưa lại đơn khởi kiện đã nhận từ đương sự cho đương sự.
Có thể hiểu, trả lại đơn khởi kiện là hành vi của Tòa án sau khi đã nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện, sau đó xem xét thấy có những căn cứ mà pháp luật quy đinh trả lại đơn khởi kiện thì đưa lại đơn khởi kiện đã nhận cho đương sự. Do đó, tác giả hình thành khái niệm này như sau: “Trả lại đơn khởi kiện là hành vi tố tụng của Tòa án từ chối nhận đơn khởi kiện khi có căn cứ mà Bộ luật 10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.250 11 Hà Thị Mai Hiên và Trần Văn Biên (chủ biên) (2012), Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, tr.
11 tố tụng dân sự quy định. Trả lại đơn khởi kiện không làm phát sinh vụ án dân sự và trách nhiệm của Tòa án với yêu cầu hoặc của người khởi kiện. Người khởi kiện sẽ có thể được khởi kiện lại nếu như đáp ứng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự”. Đặc điểm của việc trả lại đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự Việc trả lại đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, chủ thể trả lại đơn khởi kiện là Tòa án đã nhận đơn khởi kiện.
Khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích bị xâm phạm hoặc có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án xem xét để giải quyết. Tòa án sau khi nhận đơn và xem xét, nếu đơn khởi kiện thuộc một trong các trường hợp mà BLTTDS năm 2015 quy định phải trả lại đơn, thì sẽ tiến hành trả lại đơn khởi kiện. Như vậy, chủ thể nào nhận đơn khởi kiện thì chủ thể đó sẽ trả lại đơn khởi kiện. Nói cách khác, chủ thể trả lại đơn khởi kiện là Tòa án đã nhận đơn khởi kiện.
Thứ hai, trả lại đơn khởi kiện dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. Cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Với trọng trách mà pháp luật giao phó, Tòa án phải giải quyết để đảm bảo tính công bằng cho cuộc sống và pháp luật. Nhưng không phải đơn khởi kiện nào Tòa án cũng giải quyết, mà Tòa án có thể trả lại đơn khởi kiện dựa trên những căn cứ mà pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Vì việc trả lại đơn khởi kiện sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người khởi kiện, nên pháp luật quy định chặt chẽ các căn cứ trả lại đơn khởi kiện, ngoài những căn cứ này thì Tòa án không được trả lại đơn khởi kiện. Thứ ba, trả lại đơn khởi kiện là hành vi tố tụng của Tòa án từ chối giải quyết vụ án dân sự. Người khởi kiện khi nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án là đã bắt đầu tham gia tố tụng, nên khi không nhận đơn khởi kiện thì Tòa án cũng trả đơn khởi kiện dựa trên những căn cứ, trình tự do pháp luật quy định, chứ không được trả lại đơn khởi kiện một cách tùy tiện, để đảm bảo tính pháp chế. Như vậy, trả lại đơn khởi kiện là hành vi tố tụng của Tòa án, bởi khi trả lại đơn khởi kiện phải 12 tuân thủ đầy đủ những quy định của pháp luật tố tụng dân sự như căn cứ trả lại đơn khởi kiện, hình thức, thẩm quyền và việc khiếu nại trả lại đơn khởi kiện.
Khi nộp đơn khởi kiện cho Tòa án, Tòa án nhận và xem xét đơn khởi kiện. Sau một khoảng thời gian luật định nếu thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện, thì Tòa án sẽ đưa lại đơn cho đương sự, có nghĩa là Tòa án đã không chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự để xem xét giải quyết, hay nói cách khác là Tòa án đã không thụ lý giải quyết. Khác với chuyển đơn khởi kiện xảy ra khi vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nhưng có căn cứ để xác định vụ án đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhận đơn mà thuộc thẩm quyền giải quyết của một Tòa án khác. Lúc này, Tòa án nhận đơn có nghĩa vụ chuyển đơn khởi kiện, chuyển hồ sơ vụ án đến đúng Tòa án có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS.
Trong khi đó, trả lại đơn khởi kiện là việc cả hệ thống Tòa án từ chối giải quyết yêu cầu khởi kiện và trong trường hợp này người khởi kiện không thể nộp đơn khởi kiện ở bất kỳ Tòa án nào khác. Thứ tư, trả lại đơn khởi kiện là nằm trong giai đoạn xử lý đơn khởi kiện, không phải một giai đoạn của quá trình thụ lý đơn khởi kiện. Khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, Tòa án nhận đơn khởi kiện xem xét đơn khởi kiện đó thuộc trường hợp nào, thụ lý hay không thụ lý, tùy vào từng trường hợp mà tiến hành các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Do đó, trả lại đơn khởi kiện không phải là một giai đoạn của quá trình thụ lý, không thể nói nó có trước việc thụ lý, mà nó độc lập, riêng rẽ với việc thụ lý.