Chương 1 - Nội dung: + Về kiến thức: Trình bày được khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của doanh nghiệp. + Về kỹ năng: Thực hiện làm việc nhóm và thuyết trình để ra sản phẩm là nhưng câu trả lời. + Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tỉ mỉ, cẩn thận, an toàn, chính xác, ngăn nắp trong học tập. - Phương pháp: + Về kiến thức: Được đánh giá bằng hình thức kiểm tra viết, trắc nghiệm, vấn đáp, báo cáo.
+ Về kỹ năng: Đánh giá kỹ năng làm việc nhóm và thuyết trình thông qua quá trình thảo luận. + Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Quan sát sinh viên trong quá trình học tập để đánh giá. 16 Chương 2 CÁC YẾU TỐ CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT- KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP Mã chương: MH12-02 Giới thiệu: Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá hoạt động sản xuất với quy mô năm sau cao năm trước. Đòi hỏi năng suất lao động phải vượt được để có sản phẩm thặng dư và chính sản phẩm thặng dư là nguồn gốc tích lũy để tái sản xuất mở rộng.
Vì vây trong chương này cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản về các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp coonbg nghiệp Mục tiêu: - Giải thích được các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp. - Xác định được các loại vốn của doanh nghiệp - Rèn luyện tính cẩn thận, chính xác, logic khoa học, tác phong công nghiệp Nội dung chính: 1. Các giai đoạn của quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng 1. Khái quát chung Hoạt động sản xuất, kinh doanh ở doanh nghiệp công nghiệp là quá trình kết hợp các yếu tố: Lao động; Công cụ lao động (máy móc, dụng cụ); Đối tượng lao động (nguyên vật liệu).
Để tạo ra những sản phẩm vật chất nhất định đáp ứng nhu cầu của xã hội. Các giai đoạn của quá trình sản xuất ở doanh nghiệp diễn ra như sau: TLSX T – Hdt – SX SF – Hlt – T’ SLĐ Ghi chú: Một chu kỳ sản xuất T: Là vốn tiền tệ cho sản xuất (để mua nguyên vật liệu, trả lương cho CN, VC…) Hdl: Là hàng hóa dự trữ, tức là nguyên vật liệu mua về chuẩn bị cho sản xuất. SX: Là quá trình sản xuất. Ở giai đoạn này lực lượng lao động được phân công cụ thể gọi là sức lao động, ký hiệu là SLĐ.
Và sức lao động dùng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động (hay SLĐ tác động vào tư liệu sản xuất) để tạo ra những sản phẩm nhất định. Những sản phẩm được nhập kho ký hiệu là SF. Những sản phẩm ấy được đem ra bán, gọi là hàng hóa lưu thông, ký hiệu là Hlt. Tiếp theo là giai đoạn tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp thu được do bán hàng, tiền được ký hiệu là T’.
Thông thường: T’ > T. 17 Phần chênh lệch giữa T và T’ gọi là lợi nhuận (P). Tái sản xuất Quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo chu kỳ trên được lặp đi lặp lại liên tục và phục hồi không ngừng, gọi là quá trình tái sản xuất. Tái sản xuất gồm 3 thời kỳ: Thởi kỳ đầu thường gắn với tái sản xuất giản đơn (Tức là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ).
Thời kỳ thứ 2: Đã có tái sản xuất mở rộng nhưng chưa trở thành đặc trưng chủ yếu của doanh nghiệp. Thời kỳ thứ 3: Tái sản xuất mở rộng là đặc trưng chủ yếu của doanh nghiệp.Tái sản xuất mở rộng Trong thực tế quá trình tái sản xuất trên không ngừng được mở rộng đó là quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp.…… Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất với quy mô năm sau lớn hơn năm trước. Đòi hỏi năng suất lao động phải vượt được sản phẩm tất yếu để có sản phẩm thặng dư và chính sản phẩm thặng dư là nguồn gốc tích lũy để tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng có thể được thực hiện theo 2 mô hình: - Tái sản xuất phát triển theo chiều rộng: Tức là sản phẩm sản xuất ra tăng lên nhưng không phải do năng suất lao đông tăng mà do vốn sản xuất và khối lượng lao động tăng lên trong quá trình tái sản xuất.
Ví dụ: tập trung trong 1 đơn vị sản xuất nhiều máy móc thiết bị cùng loại nhưng chưa có gì tiến bộ về mặt kỹ thuật. - Tái sản xuất phát triển theo chiều sâu: Biểu hiện ở chỗ sản phẩm sản xuất ra tăng lên do năng suất lao động tăng và hiệu quả tương đối của việc sử dụng vốn tăng. Ví dụ: Tập trung thiết bị mới, hiện đại trong một đơn vị sản xuất. Cải tiến và hiện đại hóa những thiết bị hiện có.
Tái sản xuất phát triển theo chiều sâu là đặc trưng chủ yếu trong nền sản xuất hiện đai. Vốn của doanh nghiệp Tiền vốn trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được phân thành vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định Là vốn đầu tư (mua sắm) vào tài sản của doanh nghiệp như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ sản xuất, đo lường, thí nghiệm, phương tiện vận tải,… Tài sản cố định này tham gia nhiều lần vào quá trình tái sản xuất nên giá trị của chúng được chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm. Để bù đắp những hao mòn tài sản cố định đó doanh nghiệp phải lập quĩ khấu hao cơ bản.
Số tiền khấu hao đó được tính vào giá thành sản phẩm. Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản cố định và các tài sản dài hạn khác của doanh nghiệp Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn và có thời gian sử dụng dài. 18 Các tài sản này có thể là những tài sản độc lập, hoặc cũng có thể là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một, hoặc một số chức năng nhất định, mà nếu thiếu một trong bất kỳ bộ phận nào thì cả hệ thống sẽ không hoạt động được. Tài sản cố định không thay đổi hình thái vật chất của nó trong quá trình sử dụng.
Chúng tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và giá trị của nó sẽ được chuyển dịch dần từng bộ phận vào chi phí và giá thành sản phẩm. Chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn vào kinh doanh dưới hình thái tiền tệ và sau đó lại thu hồi được vốn dưới hình thức tiền tệ (T-H-T'). Các loại tài sản cố định của doanh nghiệp: Tài sản cố định có thể là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… Những tài sản cố định này gọi là tài sản cố định hữu hình. Những tài sản cố định không có hình thái vật chất, thường liên quan tới các khoản chi phí như chi phí về sử dụng đất đai, chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí về bằng phát minh sáng chế, chi phí về lợi thế kinh doanh… Chúng cũng đáp ứng hai chỉ tiêu nói trên là giá trị lớn và phân bố trong nhiều năm.
Những tài sản loại này được coi là tài saả cố định vô hình. Nền kinh tế càng phát triển thì tỉ trọng của những tài sản cố định vô hình này càng gia tăng. Các tài sản dài hạn khác: Tài sản cố định thuê tài chính là tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ti cho thuê tài chính. Đầu tư tài chính dài hạn là vốn doanh nghiệp được đầu tư vào kinh doanh ở bên ngoài để lấy lãi hoặc chia sẽ lợi ích cùng doanh nghiệp khác như cổ phiếu, trái phiếu, các loại vốn góp liên doanh, vốn tiền mặt cho vay, tài sản, đất đai cho thuê… Những khoản đầu tư tài chính dài hạn (có thời gian trên một năm) cũng được coi là vốn cố định của doanh nghiệp.
Ngoài ra những khoản kí quỹ, kí cược dài hạn mà doanh nghiệp thực hiện cũng được xếp vào vốn cố định. Khấu hao tài sản cố định và quỹ khấu hao tài sản cố đinh: Trong quá trình sử dụng, các tài sản cố định sẽ bị hao mòn dần, đó là sự giảm dần giá trị. Có hai dạng hao mòn: Hao mòn hữu hình là sự giảm giá trị tài sản cố định do doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh hoặc do tác động cảu môi trường tự nhiên. Sự giảm giá trị này tuỳ thuộc vào mức độ sử dụng và ảnh hưởng của môi trường tự nhiên.
Hao mòn vô hình là sự giảm giá trị tài sản do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho tài sản cố định bị lỗi thời, giảm giá so với trước đó. Do tài sản cố định bị hao mòn, vì vậy mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải chuyển một phần giá trị tài sản cố định tương xứng với phần giá trị hao mòn vào giá thành sản phẩm. khi bán sản phẩm, người ta sẽ chiết trừ phần tiền này để hình thành nên quỹ tái sản xuất lại tài sản cố định. Qũy này được gọi là quỹ khấu hao tài sản cố định.
Quản lý vốn cố định và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định: Vốn có định thường được sử dụng trong thời gian dài và cho nhiều chu kỳ kinh doanh. Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới sự an toàn của vốn như: lạm phát, hao mòn vô hình, quản lý vốn kém… Vì vậy, bảo toàn và phát triển vốn là một yêu cầu rất quan trọng và phải được quan tâm thường xuyên của các 19 nhà quản trị doanh nghiệp. Để bảo toàn và phát triển vốn cố định, doanh nghiệp cần phải lưu ý một số điểm sau: + Thứ nhất: Phải thường xuyên đánh giá và đánh giá lại chính xác tài sản cố định của doanh nghiệp, xác định được "giá trị thực" của tài sản cố định làm cơ sở cho việc xác định mức khấu hao hợp lý nhằm thu hồi vốn đúng hạn và xử lý kịp thời với những tài sản cố định bị mất giá, tránh tổn thất vốn. + Thứ hai: Phải lựa chọn được các phương pháp khấu hao thích hợp.
Trong quản lý vốn có nhiều phương pháp tính khấu hao, việc lựa chọn được phương pháp tính khấu hao nào là tuỳ thuộc vào những điều kiện vào hoàn cảnh cụ thể. Khấu hao đúng sẽ đảm bảo vốn thu hồi nhanh, bảo toàn vốn, mặt khác chi phí khấu hao có liên quan tới giá thành và giá bán sản phẩm.