Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Tài liệu số 1 Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 2008 Chỉ đạo biên soạn TS. Nguyễn Thị Xuyên Thứ trưởng Bộ Y tế TS. Trần Quý Tường Cục Quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế Ban biên soạn Ths. Nguyễn Thị Thanh Bình Khoa PHCN Bệnh viện C – Đà Nẵng PGS – TS Cao Minh Châu Bộ môn PHCN - Đại học Y Hà Nội TS.
Trần Văn Chương Trung tâm PHCN – Bv Bạch Mai TS. Trần Thị Thu Hà Khoa PHCN – Viện Nhi Trung ương PGS – TS. Vũ Thị Bích Hạnh Bộ môn PHCN - Đại học Y Hà Nội PGS-TS. Trần Trọng Hải Vụ quan hệ Quốc tế - Bộ Y tế Ths.
Trần Quốc Khánh Bộ môn PHCN - Đại học Y Huế TS. Phạm Thị Nhuyên Bộ môn PHCN - Đại học KTYT Hải Dương Ths. Nguyễn Quốc Thới Trường trung học Y tế tỉnh Bến Tre TS. Nguyễn Thị Minh Thủy Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội Thư ký ban biên soạn Ths.
Trần Ngọc Nghị Cục Quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế Với sự tham gia của Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam: Ths. Phạm Dũng Điều phối viên chương trình PHCNDVCĐ Ths. Anneke Maarse Cố vấn cao cấp chương trình PHCNDVCĐ TS. Maya Thomas Chuyên gia của tổ chức Y tế thế giới Mục lục Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não (TBMMN) 5 1.
Biểu hiện của tai biến mạch máu não 5 1.1 Di chuyển / cử động 5 1.2 Co cứng / co rút / biến dạng 6 1.4 Hoạt động hàng ngày 7 1.6 Cuộc sống gia đình và xã hội 7 1. Nguyên nhân và đề phòng 8 3.1 Phục hồi chức năng Y học 9 4.3 Thay đổi xây dựng tại nhà/ môi trường xung quanh 24 4.4 Hỗ trợ về tâm lý 25 4.5 Giáo dục bệnh nhân và gia đình 25 5. Các câu hỏi thường gặp 25 6. Nơi cung cấp dịch vụ 26 Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não 3 Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não (TBMMN) 1.
Biểu hiện của tai biến mạch máu não Tai biến mạch máu não gồm những biểu hiện bệnh lý đột ngột, cấp tính có tính chất khu trú của hệ thần kinh trung ương do giảm cung cấp máu tới não. Chẳng hạn như: liệt nửa người và mặt cùng bên, tê bì hay rối loạn cảm giác nửa thân, nói khó, hoặc nhìn khó; có thể kèm theo hôn mê hoặc rối loạn tri giác. Bệnh thường xảy ra đột ngột, có hoặc không có dấu hiệu báo trước như đau đầu, buồn nôn. Trong vài phút hoặc vài giờ, người bệnh có thể bị liệt hoàn toàn nửa người (gồm cả mặt, tay và chân cùng bên).
Liệt nửa người là dấu hiệu thường gặp nhất; ngoài ra có thể gặp các dấu hiệu khác như nói ngọng, tê bì nửa người, lẫn lộn, đại tiểu tiện không tự chủ. Bệnh nhân bị liệt mặt, tay và chân cùng bên Bệnh có thường gặp không? ở các nước phát triển, tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 sau bệnh ung thư và tim mạch. ở Hoa kỳ, cứ 100.000 dân thì có 794 người bị, còn ở Pháp, trong 1000 dân có 60 người bị tai biến mạch não. Thống kê ở Việt Nam năm 1994 cứ 100.000 người dân thì 115 người bị.
Theo số liệu của Khoa phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch mai (1999), 22,41% bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa là bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não. Những khó khăn mà người bị TBMMN gặp phải và cũng là dấu hiệu của TBMMN bao gồm: 1.1 Di chuyển / cử động − Do yếu hoặc bị liệt một bên nửa người, người bệnh sẽ bị khó khăn khi lăn trở ở giường; khó thay đổi tư thế. Kể cả khi nửa người không liệt hẳn Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não 5 thì đi lại vẫn gặp khó khăn do rối loạn thăng bằng hoặc mất cảm giác nửa người bên liệt. − Khó lăn sang hai bên, nhất là lăn sang bên lành.
− Khó ngồi dậy và ngồi cho vững. − Khó đứng dậy và đi lại. − Ngoài khó khăn khi di chuyển, người bệnh còn khó thực hiện các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày do cử động tay và thân mình khó. Các hoạt động bao gồm: ăn uống, rửa mặt đánh răng, thay quần áo, tắm giặt.2 Co cứng / co rút / biến dạng n Co cứng: Là các cơ bị cứng kể cả khi nghỉ ngơi, cản trở vận động bình thường.
Nắn bắp cơ thấy rắn chắc hơn bình thường. Bệnh nhân bị liệt nửa người sau một thời gian vài tháng thường bị co cứng cơ. Khi cử động chi bên liệt thấy cử động bị cứng, bị khó như bị cản lại. Tất cả các bệnh nhân đều bị co cứng theo một kiểu như nhau nên người ta gọi đây là mẫu co cứng của người liệt nửa người.
− Các cơ ở nửa người bên liệt co cứng và co ngắn hơn so với bên lành, nên cổ bị ngả sang bên liệt, thân mình cũng nghiêng sang bên liệt. − Tay liệt: do bị co cứng các cơ gập, khép và xoay trong; nên khớp vai, khớp khuỷu và cổ tay, bàn tay bị gập và khép và xoay trong. − Hông bên liệt khi đi bị kéo cao hơn bên lành. − Khớp háng, khớp gối và cổ chân bị duỗi nên khi đi chân liệt có cảm giác dài hơn chân lành, hông bên liệt buộc phải nhấc cao hơn.
n Co rút cơ: Tất cả những cơ bị co cứng một thời gian dài sau đó dễ chuyển thành co rút. Cơ và mô mềm co ngắn lại gây hạn chế vận động của khớp, đau khi cử động. Các cơ gấp ở tay và cơ duỗi ở chân hay bị co rút. n Cứng khớp / biến dạng khớp: Cơ bị co cứng rồi co rút, làm hạn chế vận động của khớp.
Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến cứng khớp. Các khớp bị cứng đầu tiên là khớp vai, khớp háng và khớp cổ chân ở bên liệt. Cứng các khớp khác xuất hiện muộn hơn. 6 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng / Tài liệu số 1 − Khớp vai và cánh tay bị khép chặt vào thân mình, rất đau khi cử động lên phía trên đầu.
− Cổ chân gấp mặt lòng, khiến người bệnh đứng và đi nhón gót. Cổ chân bị cứng và biến dạng ôi đau .3 Giao tiếp Khoảng 25-30% người bị liệt nửa người có nguy cơ bị khó khăn về giao tiếp. Đó là nói khó, nói không rõ tiếng hoặc thất ngôn. n Hiểu lời nói kém: phải nói đi nói lại nhiều lần.
n Diễn đạt bằng lời nói kém. n Đọc và viết kém: người bị TBMMN tự viết mấy dòng hoặc đọc thành tiếng một đoạn khó.4 Hoạt động hàng ngày Các hoạt động: ăn uống, chải đầu, đánh răng, tắm giặt, thay quần áo, đi vệ sinh. có thể không tự làm một mình. Người bị TBMMN có thể cần trợ giúp bằng dụng cụ hoặc sự giúp đỡ của người khác.5 Công việc Phần lớn người bị tai biến mạch máu não đều đang ở tuổi lao động hoặc mới nghỉ hưu.
Sau khi hồi phục, cần quan tâm tới việc làm tạo thu nhập để người bệnh có thể sống một cách độc lập.6 Cuộc sống gia đình và xã hội Cứ 3 người bị tai biến mạch máu não thì có 2 người là đàn ông. Bị bệnh, vai trò gánh vác việc gia đình, chăm sóc con cái bị thay đổi. Trách nhiệm đó dồn lên vai người vợ. Do vậy, việc hỗ trợ tâm lý cho gia đình và cho người khuyết tật là cần thiết.
Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não 7 1.7 Tâm lý Hầu hết những người sau khi bị TBMMN, đều trở nên trầm cảm, lo âu về bệnh tật, sợ bệnh tái phát. Số khác thì ì trệ, không tham gia vào tập luyện; còn những người khác lại ỉ lại, chờ đợi sự chăm sóc, phục vụ của gia đình và người thân. Bản thân gia đình họ cũng lo lắng, không biết phải hỗ trợ như thế nào. Do vậy, nhân viên phục hồi chức năng cần chăm sóc và hướng dẫn gia đình họ cùng tập luyện, tự làm các hoạt động tự chăm sóc; động viên người bệnh.
Nguyên nhân và đề phòng TT Nguyên nhân/ yếu tố nguy cơ Đề phòng 1 Bệnh tim Phát hiện và điều trị bệnh tim: hẹp van hai lá, điều trị rung nhĩ, huyết khối. 2 Tăng huyết áp Kiểm soát huyết áp 3 Hút thuốc lá Bỏ hoặc giảm hút 4 Nghiện rượu Bỏ hoặc giảm lượng rượu 5 Đái tháo đường Phát hiện sớm và điều trị bệnh. Theo dõi các biến chứng của đái tháo đường 6 Béo phì Điều chỉnh chế độ ăn cho hợp lý: giảm mỡ, tăng thịt nạc, rau xanh. Không nhịn, ăn điều độ.
7 Căng thẳng/ áp lực Điều chỉnh công việc/ nghỉ ngơi hợp lý 8 Thuốc tránh thai Tư vấn của thày thuốc/ thay đổi thuốc 9 Thói quen ăn uống Giảm muối, thịt mỡ và thức ăn giàu cholesterol. Phát hiện Dấu hiệu và triệu chứng n Yếu hoặc liệt nửa người một bên. n Mất hoặc rối loạn cảm giác của một bên nửa người. n Cơ nửa người co cứng hoặc mềm nhẽo.
n Rối loạn ngôn ngữ do hiểu kém hoặc diễn đạt kém. n Mất các cử động quen thuộc: chải đầu, mặc áo. vụng về, khó khăn. n Rối loạn về nói: nói ngọng, nói lắp hoặc nói to quá, nhanh quá.
n Rối loạn về nuốt: nuốt nghẹn, uống sặc. 8 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng / Tài liệu số 1 4. Can thiệp Điều trị tại bệnh viện Trong đợt điều trị cấp cứu của tai biến mạch não, người bệnh cần được nằm và theo dõi tại bệnh viện. Dấu hiệu cấp cứu là hôn mê đi kèm với liệt nửa người, đại tiểu tiện không tự chủ.
ở bệnh viện, tình trạng sức khoẻ và tri giác của người bệnh được theo dõi và điều chỉnh. Các thuốc thường được dùng ở giai đoạn này là thuốc tăng cường tuần hoàn não (cerebrolysin, gliatilin, citicholin.), thuốc làm thức tỉnh tế bào não (nootropyl, ginko biloba. ) Ngay sau khi xảy ra tai biến, người bệnh cần được chăm sóc cẩn thận để phòng ngừa loét do đè ép, nhiễm trùng ở phổi hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu. Phẫu thuật Một số trường hợp cần được điều trị bằng phẫu thuật như: xuất huyết não - màng não, máu tụ nội sọ.
Chỉ định phẫu thuật do thầy thuốc phẫu thuật thần kinh đưa ra. Can thiệp phẫu thuật để mở hộp sọ lấy máu tụ, đặt cầu nối động mạch khi có động mạch bị tắc hoặc kẹp đoạn mạch bị vỡ. Những phẫu thuật này được thực hiện ở bệnh viện tuyến Trung ương hoặc Tỉnh.