phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ôn tập kiến thức với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy. Chƣơng 2: Xây dựng tiến trình hướng dẫn học sinh ôn tập kiến thức chương "Cơ học" vật lí 8 với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy. Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ÔN TẬP KIẾN THỨC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƢ DUY 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Vấn đề ứng dụng BĐTD ở nước ta được biết đến vào năm 2006 khi dự án “Ứng dụng công cụ phát triển tư duy- BĐTD” của nhóm Tư duy mới (New Thingking Group - NTG) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai thực hiện. Trong những năm gần đây thuật ngữ BĐTD đã thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu giáo dục. Dự án phát triển giáo dục THCS II đã tập huấn sử dụng BĐTD, thu hút được sự tham gia đông đảo của các nhà quản lý giáo dục, GV và HS tham gia. Nhiều GV đã nghiên cứu ứng dụng BĐTD vào dạy học và đã đạt được những hiệu quả nhất định trong việc góp phần nâng cao kết quả của HS đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH.
Đề cập đến việc sử dụng BĐTD trong dạy học bộ môn Vật lí trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một vài đề tài cụ thể: - Trịnh Ngọc Linh (2012), Phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh THPT qua dạy chương “ Dòng điện không đổi” - Vật lí 11 Nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm dạy học và bản đồ tư duy. Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Thái Nguyên. - Nguyễn Văn Quang (2010), Bồi dưỡng năng lực tự học môn Vật lí cho học sinh Trung học phổ thông qua việc sử dụng sách giáo khoa với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Huế. - Liễu Văn Toàn (2011), Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học chương “Mắt và các dụng cụ quang” Vật lí 11 nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ và năng lực sáng tạo của học sinh, Luận văn thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các công trình nghiên cứu có sử dụng BĐTD trong dạy học, các tác giả đều sử dụng BĐTD như một công cụ hỗ trợ phát huy tính tích cực, sáng tạo cho HS nhằm đáp ứng mục tiêu dạy học và yêu cầu đổi mới PPDH. Theo “Chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên” (Dự án THCS II - Bộ GD & ĐT) thì dạy học có sử dụng BĐTD là PPDH chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,. bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, màu sắc, đường nét và chữ viết với tư duy tích cực. BĐTD kế thừa và mở rộng ở mức độ cao hơn của việc lập bảng biểu, sơ đồ.
HS tự ghi chép kiến thức trên BĐTD bằng từ khóa và ý chính, cụm từ viết tắt và ghi chú,. bằng các màu sắc, hình ảnh và chữ viết. Khi tự ghi theo cách hiểu của mình, HS sẽ chủ động hơn, tích cực học tập và ghi nhớ bền vững hơn, dễ mở rộng, đào sâu ý tưởng bằng cách vẽ thêm nhánh, phát huy được sáng tạo. HS luôn có được niềm vui trước “sản phẩm kiến thức hội họa” do tự mình làm ra dưới sự hướng dẫn của GV và sự hợp tác của tập thể [6].
Với những ưu điểm của BĐTD nói trên thì việc sử dụng BĐTD để hướng dẫn HS ôn tập kiến thức chắc chắn sẽ góp phần nâng cao kết quả học tập của các em. Ôn tập kiến thức 1. Khái niệm ôn tập trong dạy học Vật lí Việc ôn tập tài liệu đã học là một khâu không thể thiếu được trong quá trình học tập của học sinh. Theo Nguyễn Ngọc Bảo: Ôn tập là giúp học sinh củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; tạo khả năng cho giáo viên sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của học sinh, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho học sinh.
Ôn tập còn giúp học sinh mở rộng, đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành [3]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ôn tập có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất: ôn tập là học để nhớ, để nắm chắc; nghĩa thứ hai: ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thức đã dạy để học sinh nắm chắc chương trình [36]. Piagie: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới. Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau.
Sự lưu trữ thông tin được bắt đầu từ quá trình ghi nhớ, quá trình ghi nhớ có liên quan đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài. Thông tin được lưu trữ trong trí nhớ ngắn chỉ chừng vài giây trong thời gian người học làm việc, tiến hành thao tác trên các thông tin đó, còn trí nhớ dài lưu trữ thông tin trong suốt cả cuộc đời. Trí nhớ ngắn lưu trữ những gì ta đang suy nghĩ vào lúc đó, cùng các thông tin chuyển từ các giác quan qua tai, mắt của con người. Sau khi lưu trữ và xử lí những thông tin ấy trong vài giây, trí nhớ ngắn lập tức quên hầu hết số thông tin ấy.
Để lưu trữ thông tin thì những nội dung của trí nhớ ngắn phải được chuyển sang trí nhớ dài. Nhưng muốn chuyển được sang được trí nhớ dài thì các thông tin đó trước hết cần được xử lí, sắp xếp cấu trúc trong trí nhớ ngắn sao cho nó có nghĩa đối với người học. Thực chất của hoạt động này là thực hiện việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận và tổ chức lại thông tin đã thu nhận trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với người học. Để tổ chức được thông tin, điều đầu tiên người học phải xác nhận lại thông tin, bổ sung, chỉnh lí, chính xác hóa những thông tin đã lĩnh hội qua các thao tác trí tuệ để tìm ra những vấn đề cơ bản, những kết luận mẫu chốt, những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu, trao đổi với bạn bè, với thầy cô giáo để làm sáng tỏ những thông tin đó.
Tức là phải thông hiểu thông tin, phải trả lời được câu hỏi “tại sao như vậy ?”. Trên cơ sở của sự thông hiểu thông tin, người học tiến hành các hoạt động phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ chức lại các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông tin đã lĩnh hội đó trong một cấu trúc mới. Sau khi trí nhớ ngắn đã “làm nên ý nghĩa” cho thông tin đã được lĩnh hội thì nó được chuyển thành trí nhớ dài. Từ đây cho thấy chất lượng của việc cấu trúc lại thông tin như thế nào để chuyển sang lưu trữ tại vùng trí nhớ dài hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức ôn tập của GV và vào chính cá nhân HS.
[14] Trí nhớ dài giống như một tủ hồ sơ chứa những thông tin đã được lập thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai. Tuy nhiên trí nhớ dài có khuynh hướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích” một cách lâu dài nếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc ý tưởng đó. Do vậy, với những thông tin cần được lưu trữ trong trí nhớ dài thì chúng cần phải được sử dụng và gợi lại một cách thường xuyên. Điều đó có nghĩa là khi thông tin đã được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu không có sự sử dụng thường xuyên thì những thông tin đó sẽ bị lãng quên.
Vì vậy để lưu trữ thông tin lâu dài, GV cần phải tổ chức cho HS sử dụng những thông tin đã được lĩnh hội một cách thường xuyên bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụng những thông tin ấy vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành [15]. Ôn tập, củng cố kiến thức là làm cho kiến thức được vững chắc và lâu bền trong trí nhớ của học sinh, để có thể vận dụng chúng vào việc giải bài tập hoặc ứng dụng vào thực tế cuộc sống. Ôn tập còn là cơ sở để tiếp thu tốt những kiến thức mới. Trong trường hợp kiến thức mới có liên quan hoặc là sự phát triển tiếp tục các kiến thức đã học thì sự ôn tập càng cần thiết Như vậy ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gợi lại hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó củng cố, mở rộng đào sâu tri thức, làm vững chắc kỹ năng kỹ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ, tư duy của học sinh.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ôn tập phải giúp thu nhận thêm điều mới về kiến thức, phương pháp hoặc hệ thống hóa và rút ra những nhận định mới. Đó là ý nghĩa quan trọng của ôn tập kiến thức. Việc ôn tập kiến thức Vật lí có thể theo chương, theo chủ đề hay theo từng bài giảng. Vai trò, vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức Theo các nhà giáo dục học Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên [Error! Reference source not found.], [32]: Trong giáo dục, hoạt động ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường.
Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong quá trình dạy học của mình và để giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo.