Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh lớp Ba trong dạy học môn Đạo đức. Chương 2: Xây dựng biện pháp phát triển năng lực hợp tác cho học sinh lớp Ba trong dạy học môn Đạo đức. Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm. K t lu n và Ki n nghị 5 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP BA TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về phát triển năng lực cho học sinh Theo [11] vào năm 2005, GS. Bernd Meier và TS.
Nguyễn Văn Cường với tài liệu hội thảo tập huấn: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới” thuộc dự án phát triển giáo dục THPT của Hà Nội, đã trình bày chi tiết nh ng nội dung cơ bản về phát triển năng lực. Tài liệu gồm có 4 phần chính: Phần 1. Một số cơ sở của dạy và học trong xã hội tri thức. Dạy và học với PPDH mới.
Dạy và học với phương tiện dạy học mới. Chất lượng dạy học và chuẩn giáo dục. Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành kế hoạch số 831/KH-BGDĐT tổ chức hội thảo “Một số vấn đề chung về xây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015”. Trong hội thảo, có bài viết: Mục tiêu và chuẩn trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015” của tác giả Đinh Quang Báo, bài viết tập trung vào làm rõ khái niệm của các năng lực và phẩm chất của HS ở trường THCS và THPT, từ đó tác giả nêu rõ chuẩn đầu ra của các năng lực và phẩm chất cần đạt được ở mỗi cấp học.
Trong [18] Bàn về năng lực chung và chuẩn đầu ra về năng lực” của tác giả Mai Văn Hưng, bài viết trình bày: khái niệm năng lực, nh ng năng lực chung và năng lực riêng đồng thời đề xuất hình thức đánh giá của một số năng lực. Nhận xét: Các tài liệu trên đều trình bày khá hoàn chỉnh về cơ sở lý luận của năng lực như: khái niệm, biểu hiện, chuẩn đầu ra về năng lực, một số biện pháp phát triển năng lực nói chung. Tuy nhiên, vẫn còn ít đề tài và tài liệu nói về cơ sở lý luận cũng như đề xuất các biện pháp nhằm phát triển một năng lực cụ thể nào đó ở TH nói 6 chung, môn Đạo đức nói riêng. Các nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác cho học sinh Tiểu học Trên th giới Năng lực và phát triển năng lực từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và ngày nay sự quan tâm đó càng được chú trọng hơn bao giờ hết, nhằm hình thành và phát triển năng lực hợp tác cho người học, để tạo một nguồn lực thích ứng với thời đại.
Thế k XVII, Jan Amot Komenxki tin rằng, học sinh s học tốt hơn từ việc dạy học cho bạn bè và học từ bạn bè của mình… Từ thế k XVIII, các nhà giáo dục tiên tiến đều nói đến lợi ích của việc học tập hợp tác, phát triển năng lực hợp tác , học sinh học với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó tạo ra một môi trường học tập thuận lợi. Từ thế k thứ nhất, Marco Fabio Quintilin cho rằng, người học s rất có lợi nếu biết nói nh ng điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu. Cuối thế k XVIII đầu thế k XIV, Reveren Bebel và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học cho nhóm nhỏ, họ chia học sinh thành từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, người học c ng nhau trao đổi, chia s , giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu hút được kết quả học tập tốt.
Cuối thế k XIX đầu thế k XX, tác giả John Dewey cùng với các cộng sự, trong cuốn sách có tựa đề: Dân chủ và giáo dục – Một dẫn nhập vào triết lý giáo dục” (Phạm Anh Tuấn dịch) [19], cho rằng: Con người có bản chất sống hợp tác, tr cần được dạy biết thông cảm, tôn trọng quyền của người khác, làm việc c ng nhau để giải quyết các vấn đề gi a con người với xã hội trong giới hạn toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng.Pollock (2011) trên cơ sở các công trình nghiên cứu giảng dạy và các tổng hợp lý thuyết đã giới thiệu cuốn: Các phương pháp dạy học hiệu quả” (Nguyễn Hồng Vân dịch) [22] với mục đích phát huy cao độ khả năng học tập của học sinh và chất lượng dạy học của giáo viên. Trong đó các tác giả đã dành riêng một chương để giới thiệu phương pháp học phối hợp trong tổ nhóm nhằm phát huy năng lực hợp tác cho học sinh. 7 Ở Việt Nam Tư tưởng học tập hợp tác đã có từ lâu đời, trong ca dao tục ng có câu Một cây làm ch ng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” hoặc chuyện Bó đũa”,… điều này cho thấy lợi ích trong việc hợp tác vô cùng cần thiết. Trong nh ng năm gần đây, với xu thế đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, c ng trào lưu hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu thấy rằng cần tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh.
Trong cuốn “Giáo dục học” tập 1 của Hà Thế Ng , Đặng Vũ Hoạt (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1987) và cuốn “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998) của Thái Duy Tuyên đã đề cặp tới nh ng vấn đề chung của lý luận dạy học hiện đại từ cơ sở triết học của giáo dục đến các đối tượng, mô hình giáo dục… tác giả đã cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về lý luận dạy học hiện đại, đặc biệt là việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Tác giả Thái Duy Tuyên (2008) trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” đã đi sâu nghiên cứu học tập hợp tác nhóm và xem đây là một trong nh ng phương pháp hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Ông đã chỉ rõ khái niệm, tầm quan trọng của dạy học hợp tác, nh ng ưu nhược điểm của sự hợp tác trong học tập. Theo ông, kỹ năng học tập hợp tác là một trong nh ng kỹ năng quan trọng đối với con người cũng như đối với học sinh, bởi vì hầu hết các mối quan hệ của con người đều là hợp tác.
Mỗi kỹ năng liên quan đến con người đều được coi là kỹ năng hợp tác. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Lang (2005) trong “Tâm lý học đại cương” của nhà xuất bản Đại học Sư phạm, cũng nói đến khái niệm năng lực”, các mức độ năng lực, phân loại của năng lực và mối quan hệ gi a năng lực với tư chất, thiên hướng và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Các tác giả cho rằng Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với nh ng yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho nó hoạt động có kết quả tốt”. Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại – lý luận, biện pháp, kỹ thuật”, trên cơ sở khái quát các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua, chỉ ra tầm quan trọng 8 của kỹ năng học tập hợp tác và các nguyên tắc đảm bảo cho dạy học hợp tác thành công đồng thời phát triển năng lực hợp tác cho người học.
Nhìn chung, các tác giả đã tổng kết nh ng vấn đề lý luận chung về năng lực, từ đó đưa ra hệ thống các biện pháp năng lực hợp tác cho học sinh. Đây chính là nguồn tài liệu quý báu định hướng cho việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức ở trường Tiểu học của tôi. Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề các biện pháp phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học môn Đạo đức ở trường Tiểu học, nên tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn đây s là nguồn tài liệu cho giáo viên trong quá trình nghiên cứu giảng dạy bộ môn Đạo đức. Khái niệm về năng lực, năng lực hợp tác 1.
Năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh competentia”. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều ngh a khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên s n có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Theo các nhà tâm lý học [32], năng lực chính là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó trong một thời gian nhất định nhờ nh ng điều kiện nhất định và nh ng tri thức kỹ xảo đã có. Weinert cho rằng : Năng lực còn là nh ng khả năng, kỹ xảo học được hoặc s n có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định”. Năng lực còn là tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ ph hợp với một hoạt động thực tiễn (Barnett, 1992). Tóm lại, năng lực là khả năng làm chủ nh ng hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và kết nối chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả một vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Năng lực không phải là một thuộc tính đơn nhất mà là tổng thể của nhiều yếu tố có liên hệ tác động qua lại. Hai đặc điểm phân biệt cơ bản của năng lực là: (1) tính vận dụng; (2) tính có thể chuyển đổi và phát triển. Đó cũng là các mục tiêu mà dạy học tích 9 cực hướng tới. Năng lực hợp tác Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một l nh vực nào đó vì mục đích chung.
Năng lực hợp tác là khả năng cá nhân biết chia s trách nhiệm, biết cam kết và c ng làm việc có hiệu quả với nh ng thành viên khác trong nhóm.