I & PHỔ BIẾN KIẾN THỨC BÁCH KHOA PHỔ BIẾN KIẾN THỨC BÁCH KHOA )NG NGHIỆP & NÔNG THÔN KS TRẦN VĂN VỸ HUỲNH THỊ DUNG NUÔI CẪ Nước NGỌT (ao, ruộng, hồ, nuôi cá lồng) NHÀ XUẤT BẢN NGHỆ AN VIỆN NGHIÊN cúu & PHỔ BIẾN KIẾN THlte BÁCH KHOA KS TRẦN VĂN VỸ CN HUỲNH THỊ DUNG NUÔI CÁ NƯỚC NGỌT (AO, RUỘNG, HỔ, NUÔI CÁ LỒNG) NHÀ XUẤT BẢN NGHỆ AN - 2003 - VIỆN NGHIÊN CÚU VÀ PHỔ BIẾN KIẾN THÚC BÁCH KHOA INSTITUTE FOR RESEARCH AND UNIVERSALIZATION FOR ENCYLOPAEDIC KNOWLEDGE (IRUEK) Văn phòng liên hệ: B4, P41I (53) TT Giảng Võ - Đường Kim Mã Quận Ba Đình - Hà Nội. ĐT (04) 8463456 - FAX (04) 7260335 Viện Nghiên cứu và P hổ biến kiến thức bách khoa là một tổ chức khoa học tự nguyện của một số trí thức cao tuổi ở Thủ đô Hà Nội, thành lập theo Nghị định 35/HĐBT ngày 28. Giấy phép hoạt động khoa học số 70/ĐK - KHCNMT do Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường cấp ngày 17. Mục đích: Hoạt động nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng khoa học nhằm mục đích phục vụ nâng cao dân trí và mục đích nhân đạo.
Lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ: 1. Nghiên cứu các vấn đề văn hoá khoa học. Biên soạn sách phổ biến khoa học công nghệ. Biên soạn các loại từ điển.
Nhiệm vụ cụ thể: Trong những năm tới (từ 2001 đến 2005): phát huy tiềm năng sẵn có (hiện có hơn 200 giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ. cộng tác viên), Viện tổ chức nghiên cứu một sô' vấn đề khoa học; biên soạn từ điển; biên soạn sách phổ biến kiến thức bách khoa dưới dạng SÁCH HÔNG (sách mỏng và chuyên luận) phục vụ độc giả rộng rãi theo các chủ đề như nông nghiệp và nông thôn; phỏng bệnh và chữa bệnh; thanh thiếu nhi và học sinh; phụ nữ và người cao tuổi, vv. Phương hướng hoạt động của Viện là dựa vào nhiệt tình say mê khoa học, tinh thần tụ nguyện của mỗi thành viên, liên kết với các viện nghiên cứu, các nhà xuất bản. Hoạt động khoa học của Viện theo hướng “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” (Nghị quyết Đại hội IX).
Vốn hoạt động của Viện là vốn tự có và liên doanh liên kết. Viện sẩn sàng hợp tác với các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước hoặc nhận đơn đạt hàng nghiên cứu các vấn đề nêu trên. Rất mong được các nhà từ thiện, các doanh nghiệp, các cơ quan đoàn thể và Nhà nước động viên, giúp đỡ. Viện Nghiên cứu & Phổ biến kiến thức bách khoa 4 LỜ I NÓ I ĐẨU Nuôi cá nước ngọt (ao, ruộng, hồ, nuôi cá lồng) giới thiệu các loài cá nước ngọt, nguồn thực phẩm rất phong phú âViệt Nam; kĩ thuật nuôi cá nước ngọt ở ao hồ, sông suối, nuôi cá lồng, nuôi cá theo mô hình VAC, cách vận chuyển cá giống; bệnh cá và cách phòng bệnh; bảo quản và chế biến cá.
Các tác giả đã kết hợp lí luận với thực tiễn giới tiêu những kinh nghiệm thiết thực. Cuốn sách rất có ích cho các hộ nông dân và những ai yêu thích nghề nuôi cá. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc. Viện Nghiên cứu & Phổ biến kiến thức bách khoa 5 CHUƠNG I CÁ NƯỚC NGỌT VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI I.
VAI TRÒ CỦA CÁ NUỚC NGỌT TRONG ĐỜI SốNG LOÀI NGUÔI I. Cá - nguồn thực phẩm không thể thiếu Từ bao đời nay người dân đất Việt đã biết dùng cá làm thức ăn hàng ngày. Thịt cá có giá trị dinh dưỡng cao, có đủ các axit amin, các nguyên tô vi lượng mà nhiều loại gia súc, gia cầm khác không có. Ản cá dễ tiêu, mỡ cá không gây ngán mà còn là vị thuốc chữa một số bệnh như quáng gà; thịt cá còn chữa chứng lao, gầy còm, ãn uống không tiêu, buồn nôn, xuất huyết tử cung.
Thịt cá quả chữa bế kinh cho phụ nữ, chữa đau lưng mỏi gối cho đàn ông. Thịt lươn, thịt cá trê dùng cho trẻ bị viêm phổi, giúp trẻ chóng bình phục. Các thành phần dinh dưỡng có trong một số loài cá được trình bày ở bảng 1 (thành phần được tính lOOg). Ngoài giá trị dinh dưỡng cá còn là nguyên liệu của một số ngành công nghiệp khác như: chế biến nước mắm, chế biến thức ãn chân nuôi, cung cấp nhiều sản phấm cho y học như dáu cá.
Hiếu rõ giá trị của cá, nhu cầu ãn cá của người tiêu dùng ngày càng cao, nên những nãm gần đây ngành thủy sản nước ta đã chú trọng đến việc nuôi cá nước ngọt, mang lại sản phẩm lớn cho tiêu dùng trong và ngoài nước. 7 Bảng 1 Loài cá Nước {%) Đạm tổng Mỡ (%) Chất vô Calo số (%) cơ (%) Cá chép 67-78,8 17,1-18,2 2,5-3.4-2,6 180,9 Cá trắm cỏ 73-75,1 16,1-18,7 5,2-6,7 1,4-1,6 125,7 Cá mè trắng 58,9-75,1 16.23 1,2-2,1 200,7 Cá mãng 73,3 18,9 6,4 1,3 137,0 Cá tra 71,48 16,46 8,64 1,37 Cá trê 79,82 16,75 - 1,28 Cá quả 48,6 10,9 1,6 0,7 60,0 2. Tiềm năng của nghể nuôi cá nước ngọt Đất nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có bờ biển trải dài trên 3200 km, địa hình dốc từ tây sang đông, hàng năm có lượng mưa lớn đã tạo ra các vùng nước mênh mông ở đầm, hồ, kênh, mương, ao và có nhiều dòng sông lớn. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho nghề nuôi trồng thủy sản.
Diện tích các thủy vực nước ngọt có thể nuôi cá được lên đến hơn 1 triệu hecta, riêng vùng Sông Hồng có 120 nghìn hecta ao hồ, ruộng trũng, đầm nước lớn; đồng bằng Cửu Long có 345 nghìn hecta. Nước ta lại nằm trong lưu vực của hai con sông lớn là sông Hồng, và sông Cửu Long. Theo các điểu tra nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học cho biết, nước ta có gần 600 loài cá nước ngọt, trong đó có khoảng 90 loài có giá trị kinh tế cao. Là nước nông nghiệp, nông dân chiếm 70-80% dân số; người nông dân cần cù và từ lâu nay đã biết kết hợp trồng lúa và nuôi cá, lập vườn 8 và nuôi cá (nhất canh trì, nhì canh viên).
Theo “Đại Việt sử kí toàn thư’’ của Ngô Sĩ Liên thì từ đời Trần ở ta đã có ao nuôi cá. Đào ao thả cá giếc (cá thanh phù) trong các dinh thự nhà vua vừa làm cảnh vừa để ãn. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong “Vân đài loại ngữ” đã ghi chép tỉ mỉ về cấu tạo, điều kiện sống và nguồn gốc của một số loài cá, phân bố của chúng trong sông hồ. Ông còn mô tả cảnh nhân dân vớt cá bột trên sông về nuôi và gánh cá giống đi bán trong các làng xã.
Xét về mọi mặt, thì nghề nuôi cá ở ta có nhiều thuận lợi. Nhiệt độ hàng năm dao động từ 10-38°c rất ít khi nhiệt độ xuống 15°c (Miền Bắc) nên sinh vật làm thức ăn cho cá có thể phát triển quanh năm. Ở Miền Bắc có thể nuôi cá mè, trôi, trắm. Ở Miền Nam, nhất là đồng bằng Cửu Long hằng năm mùa mưa, nước từ Biển Hồ (Cãmpuchia) tràn xuống sông ngòi, kênh rạch mang theo lượng lớn tôm cá tự nhiên.
Nhân dân vùng này phát triển nghề nuôi cá đìa, cá lồng bè hai bên sông, nuôi cá ở ruộng lúa, vớt cá bột về ương. Theo thống kê của Bộ Thủy sản, ở đồng bằng cửu Long hiện có đến 200ha mặt nước nuôi cá nước ngọt và nước lợ. ở các tỉnh trung du, miền núi và Tây Nguyên nhân dân các dân tộc cũng có truyền thống nuôi cá ở ruộng bậc thang lâu đời; đào ao ven sông suối, đắp đập tròng các khe để nuôi cá nước chảy. Cùng với sự ra đời của các công trình thủy lợi, thủy điện gần đây, đã hình thành'các hồ chứa nước lớn như Cấm Sơn (Bắc Giang), Núi Cốc (Thái Nguyên), Thác Bà (Yên Bái), Suối Hai (Hà Tây), Trị An (Sông Bé), Ialy (Tây Nguyên), Dầu Tiêng (Tây Ninh).
Nghé nuôi cá mặt nước lớn và nuôi cá lồng ớ các hồ 9 chứa này đã tạo nên nhiểu làng nổi đóng vui trên các hồ. Hàng năm việc nuôi cá đã mang lại nguồn lợi về cá rất lớn: trước hết cải thiện bữa ăn hàng ngày cho gia đình, sau nữa mang lại cúa cải vật chất cho xã hội. Bên cạnh nghề nuôi cá nước ngọt cổ truyền, phải kế đến những thành tựu trong công tác nghiên cứu nuôi trồng thủy sản ở nước ta thời gian gần đây. Đội ngũ cán bộ khoa học nghé cá ngày càng đông; nhiều viện, trung tâm nghiên cứu ra đời, được trang bị máy móc phương tiện hiện đại đã có khả năng tiếp cận với nuôi trồng thủy sản tiên tiến trên thế giới.
Có thể điểm lại một số thành quả đáng ghi nhận dưới đây: a) Từ những nãm 1960 đến 1970 chúng ta đã nghiên cứu thành công việc cho cá mè, cá trắm cỏ đẻ nhân tạo và sản xuất được kích dục tố sinh sản cho cá. Đã di giống, thuần hóa, lại tạo thành công một số loài cá chép Ân Độ, cá trê phi, cá chép kính Hungari. b) Từ 1992 đến nay có phong trào nuôi cá trê lai, cá bông tượng, cá chim trắng, cá chép lai vv„ Chúng ta dã nhặp nội nhiều loài cá rô phi, nhất là cá rô phi vằn thuần chủng đê làm nguyên liệu sản xuất rô phi đơn tính đực nuôi cho nãng suất rất cao, thịt lại ngon. c) Các tố chức khuyến ngư từ trung ương đến địa phương được thành lập, thường xuyên mở các lớp tập huấn kĩ thuật, chuyên giao cóng nghệ tiến bộ đến tận tay người nuôi cá.
Hiện nay nhân dán ta không chí nuôi cá trong ao nước tĩnh mà còn phát triến mạnh các hình thức nuôi cá lồng, bè trên sõng 10 nước cháy, trên các hồ chứa. Nguyên liệu làm lổng cũng ngàv càng cải tiến từ bằng tre, gỗ đến lưới sắt. Từ đó đã khắc phục được thiệt hại do thiên tai, lũ lụt và dịch bệnh nén hiệu quả kinh tê rất cao. Nhiều hộ ớ các tính phía Nam nhờ nuôi cá bông tượng, cá tra, cá ba sa, cá rô phi đơn tính đã thu nhập hàng năm từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng.
Nuôi cá nước ngọt nay đã thực sự trở thành ngành sản xuất hàne hóa. Nghề nuôi cá nước ngọt Trong quá trình sinh sống hàng ngày, con người đã có nhiều biện pháp để bắt cá làm thực phẩm; lâu dần nguồn lợi cá và các động vật ở nước bị cạn kiệt mà con người ngày càng sinh sôi nảy nở thêm đông. Những chất thải do con người bỏ vào ao hồ, sông ngòi đã làm môi trường sống của cá bị ô nhiễm, làm cho nguồn lợi thủy sản ngày càng giảm sút. Để ngăn chận tình trạng này nuôi cá là một trong các biện pháp có hiệu quả nhất.