CHƯƠNG 1 XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG CỦA CÁ NHÂN ĐỂ LẬP DI CHÚC TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Để có giá trị pháp lý và phát sinh hiệu lực, di chúc phải hợp pháp. Là một loại giao dịch dân sự, di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự nói chung được quy định trong phần chung và các quy định cụ thể tại chương XXII của Bộ luật dân sự năm 2015. Một trong các điều kiện đó là người lập di chúc (NLDC) phải đủ năng lực để lập di chúc. NLDC chỉ có thể là cá nhân.
Nhưng không phải mọi cá nhân đều có thể tự mình lập di chúc để định đoạt tài sản nếu không có năng lực để lập di chúc. Pháp luật hiện hành quy định năng lực lập di chúc của cá nhân dựa vào hai yếu tố: trí tuệ minh mẫn và có năng lực hành vi dân sự cần thiết để có thể định đoạt di sản bằng di chúc. Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định : “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”. Có hai mức độ về năng lực hành vi dân sự lập di chúc sau đây: - Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền tự mình lập di chúc.
Khoản 1 Điều 625 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình”. - Người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc nếu đáp ứng được một số điều kiện luật định. Theo quy định tại khoản 2 Điều 625 Bộ luật dân sự năm 2015: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc”. - Người mất năng lực hành vi dân sự không thể lập di chúc.
Vấn đề đặt ra là người bị khó khăn trong việc nhận thức và làm chủ hành vi thì có được lập di chúc hay không? Theo Điều 8 Thông tư số 01/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản 10 sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (sau đây gọi tắt là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) quy định trách nhiệm khi tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận một cửa, một cửa liên thông thuộc về “Khi tiếp nhận hồ sơ chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, người tiếp nhận hồ sơ (công chức của Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, tính xác thực về chữ ký của người yêu cầu chứng thực. Người tiếp nhận hồ sơ phải bảo đảm người yêu cầu chứng thực chữ ký minh mẫn, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng, giao dịch.” Trên thực tế, chúng ta gặp trường hợp NLDC là người lớn tuổi, già yếu, người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và thậm chí là người không biết chữ đến Ủy ban nhân dân cấp xã (UBNDX) yêu cầu chứng thực di chúc. Vấn đề đặt ra là, người có thẩm quyền chứng thực di chúc xác định khả năng của những người này như thế nào để biết họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có minh mẫn, sáng suốt không. Thực tế cho thấy, khi gặp những trường hợp này, công chức nhận hồ sơ thường đánh giá qua loa khả năng lập di chúc của người già yếu và tiến hành các bước tiếp theo để chứng thực di chúc cho người dân; hoặc cũng có trường hợp công chức gặp khó trong việc đánh giá khả năng của NLDC thì sẽ hướng dẫn người dân đến Văn phòng công chứng để thực hiện lập di chúc chứ không có cơ chế nào hỗ trợ người lớn tuổi, già yếu.
Do vậy, nội dung của chương này tập trung giải quyết vấn đề xác định khả năng của người lớn tuổi, già yếu, người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế về thể chất và người không biết chữ đến UBNDX yêu cầu chứng thực di chúc. Xác định khả năng lập di chúc của cá nhân là người lớn tuổi, già yếu để lập di chúc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã 1. Luật chưa quy định cụ thể về cách xác định khả năng của cá nhân là người lớn tuổi, già yếu để lập di chúc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã Pháp luật đòi hỏi NLDC là người có khả năng nhận thức bình thường vào lúc lập di chúc. Điều này có nghĩa là vào thời điểm lập di chúc, nếu NLDC đã già yếu, lú lẫn thì di chúc không có giá trị pháp luật nên khi chứng thực di 11 chúc, người có thẩm quyền chứng thực có trách nhiệm kiểm tra năng lực hành vi dân sự và sự minh mẫn, sáng suốt của NLDC.
Trường hợp người đến UBNDX lập di chúc là người khỏe mạnh, minh mẫn thì việc xác định khả năng lập di chúc có thể xem là đơn giản, nhưng trong trường hợp người đến lập di chúc là người lớn tuổi, già yếu thì việc này tưởng dễ nhưng không dễ chút nào. Vì có những người cao tuổi gặp tình trạng hay quên, lú lẫn. Ngược lại, có những người rất cao tuổi nhưng họ lại rất sáng suốt, minh mẫn. Vì vậy, cách thức để công chức tiếp nhận hồ sơ có thể xác định được khả năng lập di chúc của người này thì Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị định 23/2015/NĐ-CP chưa có quy định về vấn đề này.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về cách thức xác định khả năng của cá nhân nhân là người lớn tuổi, già yếu để lập di chúc tại Uỷ ban nhân dân cấp xã Do pháp luật không quy định cách thức xác định khả năng của cá nhân để lập di chúc tại UBNDX, khi tiếp nhận hồ sơ chứng thực di chúc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, người tiếp nhận hồ sơ không có căn cứ pháp lý xác định khả năng của người yêu cầu chứng thực là người lớn tuổi, người già yếu. Công chức công chức tiếp nhận hồ sơ chỉ có thể dựa vào những giấy tờ tùy thân như Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/Hộ khẩu/Hộ chiếu để xác định độ tuổi và bằng trực quan để xác định người này có “yếu” không. Chẳng hạn như, công chức quan sát người này trên mặt có nhiều nếp nhăn không? Tóc có bạc không? Lưng có còng không? Có tự đi lại được không hay phải có người khác đỡ? Khả năng nghe nói có tốt không? Nếu người này vẫn tự đi lại được, nghe nói tốt thì công chức cho rằng họ vẫn còn sức khỏe, minh mẫn để có thể lập di chúc, và ngược lại. Do đó, cách kiểm tra này hoàn toàn dựa trên trực giác chủ quan của công chức tư pháp nên nó không thể đánh giá chính xác khả năng của người lớn tuổi, già yếu trong trường hợp người này lú lẫn, lúc tỉnh lúc mê, thậm chí là mất trí nhớ vì trực quan cho thấy họ vẫn tự đi lại được, nghe và trả lời được.
Ở cách thức đánh giá khả năng của cá nhân là người lớn tuổi, già yếu lập di chúc ở UBNDX, tác giả kiến nghị như sau: Đối với trường hợp cá nhân là người lớn tuổi, già yếu, công chức tư pháp nhận thấy có dấu hiệu không minh mẫn, tỉnh táo thì được yêu cầu NLDC cung cấp giấy khám sức khỏe của cơ quan y tế có thẩm quyền trong 30 ngày. Sau đây là một số vụ việc qua thực tiễn xét xử. 12 Vụ việc thứ nhất: Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 15-3- 2019 của Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Sóc Trăng2 về việc tranh chấp không công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phía nguyên đơn cho rằng di chúc được lập ngày 31/8/2006, nhưng tại lúc đó ông K đang nhập viện và điều trị tại bệnh viện J thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng sức khỏe ông K lúc tỉnh, lúc mê và không được bác sĩ điều trị cho xuất viện hoặc chuyển viện, nên không thể có việc ông K lập tờ di chúc trên tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã B vào ngày 31/8/2006.
Theo UBND xã B khẳng định: Vào ngày 31/8/2006 ông K đi xe du lịch đến UBND xã B yêu cầu chứng thực chữ ký trong tờ di chúc do ông tự lập, đại diện UBND xã đã đề nghị ông K đọc lại di chúc để kiểm tra năng lực hành vi của ông, ông K đã đọc một loạt và tự nguyện ký tên và lăn tay điểm chỉ vào di chúc trước mặt người có thẩm quyền, nên UBND đã xác nhận chữ ký, dấu lăn tay của ông K vào bản di chúc. Đồng thời, tại đoạn cuối của bản di chúc ông K cũng có ghi rõ: “Tôi đã đọc lại và hiểu rõ nội dung di chúc kể trên và quyết định bảo lưu không có ý kiến gì khác, tự tay tôi ký tên vào tờ di chúc này trước mặt viên chức chính quyền để làm bằng. Theo chuẩn đoán và điều trị của Bệnh viện J thì ông K bị bệnh lao phổi, xơ gan và tiểu đường type 2, không thể hiện bị bệnh tâm thần, và tại các "Tờ điều trị" của bệnh viện mỗi lần thăm khám cho ông K đều ghi nhận "Bệnh tỉnh, tiếp xúc được". Đồng thời, những người trực tiếp nuôi bệnh ông K là các ông N L C, N L C 2 đều xác định trong thời gian trị bệnh ở Bệnh viện J ông K vẫn đi lại, tiếp xúc bình thường.
Do vậy có cơ sở để kết luận trình bày của đại diện UBND xã B, khi lập di chúc ông K tỉnh táo và đọc lại di chúc là có cơ sở. Như vậy tờ di chúc lập ngày 31/8/2006 được lập đúng hình thức, nội dung và việc lập di chúc của ông K đã tuân thủ đúng quy định tại khoản 1 Điều 658 của BLDS. Do đó yêu cầu của nguyên đơn về việc không công nhận tờ di chúc lập ngày 31/8/2006 là hợp pháp là không có căn cứ chấp nhận.