CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền công tố Lịch sử tư pháp hình sự trên thế giới đã cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền công tố đã được biết đến từ thời đại xa xưa của xã hội loài người.
Tùy từng kiểu Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định với những điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội, con người, truyền thống chính trị của mỗi quốc gia mà bộ máy nhà nước được thiết lập khác nhau. Do vậy, quyền công tố cũng có những khác biệt nhất định, đi đôi với việc hoàn thiện thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia thì việc hoàn thiện chế định quyền công tố cũng ngày càng thể hiện rõ nét. Trong khoa học luật tố tụng hình sự, việc xác định quyền công tố và thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Ở nước ta Hiến pháp năm 1980 đề cập đến quyền công tố, THQCT khi quy định chức năng của VKS tại Điều 138 Hiến pháp 1992; Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) và điều 107 Hiến pháp 2013 đã khẳng định lại sự tồn tại của thuật ngữ quyền công tố, THQCT trong chức năng của Viện kiểm sát nhân dân.
Vậy “quyền công tố” là gì? Mặc dù các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật đã tập trung nghiên cứu, tuy nhiên vẫn chưa có cách hiểu, quan điểm thống nhất về khái niệm trên. Dưới góc độ ngôn ngữ học, “công tố” là một từ ghép Hán – Việt. Theo Từ điển Tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc về nhà nước chung cho mọi người, khác với “tư”, còn “tố” có nghĩa là “nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác”. Từ đó, công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội bị cáo và phát biểu ý kiến trước Tòa án, nhân danh nhà nước”1.
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy một số quan điểm về quyền công tố như sau: Quan điểm thứ nhất: đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Quan điểm này cho rằng công tố không 1 Viện ngôn ngữ học (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 5 phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật2.
Những người theo quan điểm này đã coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không phải là một mà chúng hoàn toàn độc lập và có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Không phải trong mọi hoạt động của kiểm sát viên đều bao hàm hai chức nằng này; có hoạt động chỉ là thực hiện chức năng công tố và ngược lại có hoạt động chỉ thực hiện chức năng kiểm sát mặc dù chúng đề do một kiểm sát viên thực hiện trong cùng một thời gian. Quan điểm thứ hai: cho rằng Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa.
Nội dung của quyền công tố là đưa ra những lời buộc tội những cá nhân cụ thể về những tội danh cụ thể trong bản cáo trạng và hoạt động chứng minh tính có căn cứ và tính hợp pháp của cáo trạng đó tại phiên tòa sơ thẩm3. Những người theo quan điểm này cho rằng việc thực hiện quyền công tố như vậy mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi của quyền công tố. Về lý luận cũng như trên thực tế, hoạt động THQCT của VKS tại Tòa án chỉ là một bộ phận trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng THQCT của Viện kiểm sát.
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt Nhà nước bảo vệ lợi ích công (Nhà nước, xã hội và công dân) khi có các vi phạm pháp luật.Vì vậy, VKS thực hành quyền công tố không chỉ trong tố tụng hình sự mà cả trong lĩnh vực tố tụng khác nhau như dân sự, kinh tế và các hoạt động tư pháp khác4. Theo quan điểm này thì quyền công tố là một nội dung của hoạt động chức năng của VKSND trong lĩnh vực TTHS, TTDS và các lĩnh vực tư pháp khác, nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế. Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng nhất quyền công tố với các quyền năng khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động. 6 Các quan điểm trên đều có hạn chế là không phân định rõ ràng khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố.
Quyền công tố chỉ có thể được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật TTHS; không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước (nhân danh công quyền) “chống lại” hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Bởi tội phạm là vi phạm pháp luật nguy hiểm nhất; kẻ phạm tội xâm phạm trước hết đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích xã hội (an ninh, trật tự xã hội), sau đó mới đến lợi ích của người bị hại. Nhà nước nhân danh xã hội để trừng trị kẻ phạm tội. Để đưa ra được quan niệm đúng về quyền công tố, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa: Quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho VKS truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự * Khái niệm thực hành quyền công tố Khái niệm THQCT là khái niệm có liên hệ mật thiết với khái niệm quyền công tố bởi lẽ khi có hành vi phạm tội xảy ra, mối quan hệ giữa Nhà nước với người thực hiện hành vi phạm tội sẽ phát sinh. Từ điển Luật học giải thích “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử”. Để hiểu một cách đầy đủ về THQCT cần phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, nội dung của THQCT.
Hiện nay, theo quy định pháp luật của nước Việt Nam, VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố, khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 đã quy định rõ vấn đề này: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Và theo khoản 1 điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 thì “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”. Vậy có thể kết luận: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử” pg. 7 * Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Theo từ điển Tiếng Việt, “nhiệm vụ” là công việc phải làm, phải gánh vác.
Theo cách giải nghĩa này, “nhiệm vụ” nói chung là công việc mang tính bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. Tư cách của chủ thể trong mối quan hệ xã hội sẽ gắn với nhiệm vụ kèm theo của chủ thể đó khi tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể được pháp luật quy định. Như vậy, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng được hiểu là những hoạt động cụ thể của từng cơ quan đó, trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành để cùng thực hiện nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm5. Còn “quyền hạn” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép.
Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể. Trong khoa học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Có thể thấy nhiệm vụ và quyền hạn là hai khái niệm khác nhau nhưng cũng mang tính tương đối thống nhất. Pháp luật tố tụng hình sự trao cho VKS những quyền hạn nhất định chính là công cụ để VKS thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật đã quy định phải thực hiện6.
Theo từ điển Luật học, “xét xử sơ thẩm là một từ Hán Việt, có nghĩa là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Toà án có thẩm quyền”7.