Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được tác giả Nguyễn Khánh Linh thực hiện năm 2022 tại Trường Đại học Luật Hà Nội, chuyên ngành Luật tố tụng hình sự, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Ngô Thị Vân Anh. Nghiên cứu tập trung vào đề tài: "Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội".

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Thực hành quyền công tố (THQCT) là chức năng hiến định nòng cốt của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), được ghi nhận liên tục qua các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 cùng Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Trong tiến trình cải cách tư pháp theo các chủ trương của Đảng và Nhà nước, hoạt động công tố đòi hỏi phải được tiến hành xuyên suốt từ khi thụ lý tố giác, tin báo tội phạm đến giai đoạn xét xử sơ thẩm nhằm bảo đảm không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự (VAHS) vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập: một bộ phận Kiểm sát viên (KSV) chưa phát huy đầy đủ vai trò của bên buộc tội; kỹ năng đối đáp, tranh tụng còn hạn chế; số lượng vụ án bị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc bị cấp phúc thẩm hủy, sửa vẫn còn tồn tại. Tại thành phố Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của cả nước – quy mô các vụ án hình sự ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Dù trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ ngành kiểm sát Thủ đô đã từng bước được cải thiện, hoạt động THQCT trong xét xử sơ thẩm tại địa bàn này vẫn đặt ra những vướng mắc thực tiễn mang tính điển hình cần được khảo sát và đánh giá toàn diện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là phân tích những vấn đề lý luận, khảo cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, khảo sát thực tiễn thi hành tại VKSND thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
  2. Phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để làm rõ các điểm tiến bộ và những bất cập còn tồn tại.
  3. Đánh giá thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi THQCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội; làm rõ nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Kiểm sát viên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận pháp lý về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi THQCT trong xét xử sơ thẩm; hệ thống quy phạm pháp luật TTHS Việt Nam và kinh nghiệm tố tụng quốc tế điều chỉnh chế định này.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội (bao gồm hệ thống VKSND hai cấp thành phố Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực tiễn và hồ sơ án được thống kê, khảo sát trong giai đoạn 6 năm, từ năm 2016 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Tác giả tiếp cận đề tài từ các khái niệm nền tảng của khoa học luật tố tụng hình sự:

  • Quyền công tố: Khóa luận điểm lại ba trường phái học thuật: (i) Quan điểm đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật; (ii) Quan điểm thu hẹp quyền công tố chỉ ở phạm vi truy tố và buộc tội tại phiên tòa; (iii) Quan điểm mở rộng quyền công tố sang cả tố tụng dân sự, kinh tế. Trên cơ sở phân tích giới hạn của từng trường phái, tác giả xác lập định nghĩa: Quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự và thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội.
  • Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm: Là hoạt động của VKSND sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để duy trì sự buộc tội của Nhà nước đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, thông qua việc công bố cáo trạng, xét hỏi, xem xét vật chứng, luận tội, tranh luận và bảo đảm tính hợp pháp, có căn cứ của bản án.
  • Nhiệm vụ, quyền hạn: "Nhiệm vụ" là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc chủ thể tố tụng phải thực hiện để hiện thực hóa chức năng kiểm sát; "Quyền hạn" là tổng thể quyền năng theo luật định trao cho KSV/VKS làm công cụ pháp lý bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở

  • Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung 2002) và Hiến pháp năm 2013 (Điều 107).
  • Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (Điều 3).
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (các Điều 4, 157, 174, 232, 236, 238, 246, 254, 262, 266, 268, 274, 276, 280, 285, 289, 298, 306, 307, 321, 337, 345) so sánh với BLTTHS năm 2003 (Điều 168, 170, 179, 189, 206, 273).
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (các Điều 12, 16, 29, 91).
  • Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
  • Quyết định số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự (các Điều 20, 21, 23, 24, 25, 37).
  • Pháp luật tố tụng hình sự nước ngoài: BLTTHS Nhật Bản (các Điều 1, 256, 247, 291, 312...) và BLTTHS nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2012 (các Điều 5, 181 đến 215).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tư pháp, cùng các nghị quyết cải cách tư pháp của Đảng.

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng để làm rõ cơ sở lý luận, giải thích nội hàm các quy phạm pháp luật của BLTTHS năm 2015 và các văn bản dưới luật.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015; so sánh mô hình tố tụng của Việt Nam với mô hình tranh tụng có cải biến của Nhật Bản và mô hình thẩm vấn kết hợp yếu tố tranh tụng của Trung Quốc.
  • Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thu thập, xử lý hệ thống số liệu tư pháp chính thức từ Viện kiểm sát nhân dân tối cao và báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở khoa học của chế định THQCT trong xét xử sơ thẩm qua ba nội dung chính:

  • Khái niệm và đặc trưng pháp lý: Khẳng định THQCT trong xét xử sơ thẩm là giai đoạn tập trung nhất của quá trình buộc tội công khai. Nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong giai đoạn này mang tính bắt buộc và gắn chặt với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
  • Ý nghĩa của việc quy định và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS:
    1. Bảo đảm thực hiện quyền lực Nhà nước: Quyền công tố là nhánh quyền lực công quyền nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, Nhà nước giao duy nhất cho VKS thực hiện nhằm bảo vệ lợi ích công và quyền lợi hợp pháp của công dân.
    2. Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử: KSV tham gia với tư cách bên buộc tội độc lập, sự có mặt của KSV tại phiên tòa là bắt buộc (vắng mặt phải hoãn phiên tòa theo Điều 289 BLTTHS năm 2015); KSV phải đối đáp, tranh luận bình đẳng với bị cáo, người bào chữa trước Tòa án.
    3. Giúp Tòa án ra bản án đúng người, đúng tội, bảo đảm quyền con người: Hạn chế tối đa nguy cơ oan sai, bỏ lọt tội phạm; bảo vệ các nguyên tắc hiến định như suy đoán vô tội, quyền bào chữa, quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
  • Pháp luật so sánh về vai trò công tố viên tại phiên tòa sơ thẩm:
    • Nhật Bản: Áp dụng mô hình tranh tụng chặt chẽ. Công tố viên nắm giữ "độc quyền truy tố" (Điều 247). Trước khi mở phiên tòa, Công tố viên chỉ gửi bản cáo trạng gồm 3 nội dung cơ bản (lai lịch, tội danh, hành vi cấu thành) mà không chuyển kèm hồ sơ vụ án cho Thẩm phán (Điều 256) nhằm ngăn ngừa định kiến phán quyết. Toàn bộ chứng cứ do Công tố viên tự lựa chọn và trình chiếu tại phiên xử.
    • Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: BLTTHS năm 2012 quy định Viện kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật độc lập (Điều 5). Tại phiên tòa sơ thẩm, trách nhiệm chứng minh tội phạm được chuyển giao cho Kiểm sát viên trực tiếp thực hiện bằng cách xét hỏi trước hành vi phạm tội của bị cáo, sau đó mới tới người bào chữa; Hội đồng xét xử (HĐXX) giữ vị trí lắng nghe và chỉ can thiệp khi cần thiết.

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 2 phân tích cơ cấu pháp lý điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của VKS qua ba thời điểm tố tụng, đánh giá các điểm tiến bộ và những vướng mắc của BLTTHS năm 2015:

1. Các nhóm quyền năng theo giai đoạn tố tụng

  • Giai đoạn chuẩn bị xét xử:
    • Rút quyết định truy tố (Điều 285): KSV có quyền rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng trước khi mở phiên tòa khi có các căn cứ không khởi tố (Điều 157 BLTTHS), tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16 BLHS), chuyển biến tình hình hoặc chính sách hình sự (Điều 29 BLHS), hoặc đối với người dưới 18 tuổi đáp ứng điều kiện miễn trách nhiệm hình sự (Điều 91 BLHS). Rút toàn bộ thì đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án; rút một phần thì đình chỉ phần đã rút.
    • Giải quyết việc Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung (ĐTBS) và chủ động đề nghị trả hồ sơ: Thực hiện theo khoản 1 Điều 280, Điều 246 BLTTHS và Thông tư liên tịch số 02/2017. Viện kiểm sát có quyền tự tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung; nếu không tự làm được thì chuyển hồ sơ sang Cơ quan điều tra (CQĐT). Đồng thời, KSV có quyền chủ động kiến nghị Tòa án trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung nếu phát hiện thiếu sót chứng cứ quan trọng (khoản 2 Điều 280).
  • Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm:
    • Công bố bản cáo trạng và ý kiến bổ sung (Điều 306): Mở đầu phần xét hỏi, KSV đọc cáo trạng; ý kiến bổ sung chỉ nhằm giải thích, làm sáng tỏ chứng cứ, tuyệt đối không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
    • Tham gia xét hỏi và xem xét vật chứng (Điều 307): Là nghĩa vụ bắt buộc của KSV nhằm kiểm tra tính hợp pháp của tài liệu điều tra, làm rõ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các tài liệu mới phát sinh tại phiên tòa.
    • Luận tội và tranh tụng (Điều 321): KSV trình bày luận tội, phân tích tính chất nguy hiểm của tội phạm, nhân thân bị cáo, đề xuất mức hình phạt, biện pháp tư pháp; tham gia đối đáp toàn diện với người bào chữa.
  • Sau khi kết thúc phiên tòa: Kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án khi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm (Điều 337).

2. Đánh giá tính hoàn thiện và các bất cập còn tồn tại của pháp luật

Tác giả tổng hợp 8 điểm tiến bộ nổi bật của BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 trong bảng so sánh sau:

STT Chế định pháp lý Quy định BLTTHS năm 2003 Bước tiến trong BLTTHS năm 2015
1 Khái niệm vi phạm thủ tục tố tụng Không định nghĩa rõ "Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng", dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện. Bổ sung định nghĩa chuẩn hóa tại điểm o khoản 1 Điều 4.
2 Căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung Quy định định tính "cần xem xét thêm chứng cứ quan trọng mà không thể bổ sung tại phiên tòa" (Điều 170). Tách bạch 4 căn cứ cụ thể tại Điều 280; gắn với việc thiếu chứng cứ thuộc Điều 85.
3 Điều luật riêng về quyền công tố tại XXST Quy định tản mạn tại các điều luật trong phần xét xử. Thiết lập riêng một điều luật hoàn chỉnh (Điều 266).
4 Ý kiến bổ sung của Kiểm sát viên Cho phép nêu ý kiến bổ sung nhưng không giới hạn phạm vi, dễ dẫn tới xâm phạm quyền bị cáo. Quy định rõ tại Điều 306: Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
5 Số lượng Kiểm sát viên tại phiên tòa Giới hạn tối đa không quá 02 Kiểm sát viên (Điều 189). Không giới hạn số lượng KSV đối với các vụ án nghiêm trọng, phức tạp (Điều 289).
6 Cấu trúc phiên tòa theo hướng tranh tụng Chia tách riêng biệt phần Xét hỏi và Tranh luận. Tích hợp thành "Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa" (Mục 5, Chương XXI).
7 Chế định luận tội Chỉ quy định lồng ghép khái quát trong trình tự phát biểu khi tranh luận. Bổ sung điều luật độc lập về Luận tội của Kiểm sát viên (Điều 321).
8 Giao bản án cho Viện kiểm sát cấp trên Chỉ giao bản án cho VKS cùng cấp trong thời hạn 10 ngày. Bắt buộc Tòa sơ thẩm phải giao bản án cho cả VKS cấp trên trực tiếp trong thời hạn 10 ngày.

Song song với các điểm tiến bộ, tác giả phát hiện 5 hạn chế, mâu thuẫn pháp luật chưa được khắc phục:

  1. Bất cập về phạm vi và từ ngữ tại Điều 266: Điều 266 chỉ liệt kê nhiệm vụ tại và sau phiên tòa mà bỏ sót quyền hạn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Điểm c khoản 1 Điều 266 quy định VKS có quyền "kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn", mâu thuẫn với khoản 3 Điều 321 chỉ cho phép "kết luận về tội nhẹ hơn" và Điều 25 Quy chế 505 quy định "kết luận về khoản khác nhẹ hơn hoặc nặng hơn".
  2. Hạn chế về giới hạn số lần trả hồ sơ ĐTBS (Điều 174): Quy định Thẩm phán chủ tọa chỉ được trả hồ sơ 1 lần và HĐXX chỉ được trả 1 lần. Khi kết quả ĐTBS lần một làm phát sinh chứng cứ hoặc tình tiết phạm tội hoàn toàn mới mà luật không cho phép trả tiếp sẽ dẫn tới bế tắc trong chứng minh.
  3. Thủ tục xét hỏi làm mờ nhạt vai trò của KSV (Điều 307): Thẩm phán chủ tọa vẫn là người hỏi trước và hỏi chính. Quy định này biến Tòa án thành chủ thể chủ động buộc tội, làm mất tính trung lập của trọng tài xét xử và làm suy giảm tính chủ động tranh tụng của KSV.
  4. Bất cập về giới hạn xét xử sơ thẩm (khoản 3 Điều 298): Khi Tòa án cấp huyện xét xử và thấy cần áp dụng tội danh nặng hơn thuộc nhóm tội đặc biệt nghiêm trọng (vượt thẩm quyền cấp huyện theo Điều 268), BLTTHS không có cơ chế chuyển giao hồ sơ rõ ràng.
  5. Thiếu hụt quy định về kháng nghị phúc thẩm: Chưa luật hóa "căn cứ kháng nghị" vào BLTTHS (hiện vẫn phải dẫn chiếu Quy chế 505 của nội bộ ngành); thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp 15 ngày nhưng Tòa án có quyền gửi bản án trong 10 ngày (thực tế thường gửi muộn hơn), khiến VKS chỉ còn 5 ngày hoặc không còn thời gian nghiên cứu hồ sơ để kháng nghị.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và giải pháp đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3 trình bày các cứ liệu thực tế về ngành kiểm sát Thủ đô và phân tích kết quả công tác giai đoạn 2016 - 2021:

  • Khái quát tổ chức VKSND thành phố Hà Nội: Thành lập theo Quyết định số 01/QĐ ngày 31/12/1960 của Viện trưởng VKSNDTC. Sau khi hợp nhất địa giới hành chính theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội (sáp nhập Hà Nội cũ, tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh thuộc Vĩnh Phúc), VKSND thành phố Hà Nội hiện quản lý 45 đơn vị trực thuộc, bao gồm 30 VKSND cấp quận/huyện/thị xã và 15 phòng nghiệp vụ.
  • Thực tiễn công tác THQCT và kiểm sát xét xử sơ thẩm: Trong 6 năm (2016 - 2021), VKSND hai cấp thành phố Hà Nội đã thụ lý, thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với khối lượng vụ án lớn:
Bảng tổng hợp công tác THQCT và KSXX sơ thẩm của VKSND TP. Hà Nội (2016 - 2021)
Chỉ tiêu nghiệp vụ Toàn giai đoạn 2016 - 2021 Trung bình hàng năm
Số bị cáo Tòa án thụ lý sơ thẩm 40.644 bị cáo ~ 6.774 bị cáo
Số bị cáo VKS đã THQCT và KSXX sơ thẩm 38.923 bị cáo (đạt 95,69% số thụ lý) 10.820 bị cáo
Số vụ án VKS đã THQCT và KSXX sơ thẩm Đạt 99,8% so với số vụ VKS truy tố 6.419 vụ
Số vụ Tòa án ra quyết định đình chỉ xét xử 280 vụ / 423 bị cáo ~ 47 vụ / ~ 71 bị cáo
Số vụ Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ xét xử 58 vụ / 114 bị cáo ~ 10 vụ / ~ 19 bị cáo

(Nguồn số liệu: Báo cáo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trích dẫn trong Bảng 3.1 của khóa luận)

  • Các kết quả thực tiễn nổi bật:
    • Viện kiểm sát hai cấp đã giải quyết tốt nhiều đại án kinh tế, tham nhũng thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Thường trực Thành ủy Hà Nội theo dõi, chỉ đạo. Điển hình là vụ án Nguyễn Đức Kiên cùng đồng phạm (truy tố về các tội: Kinh doanh trái phép, Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, Trốn thuế, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản); vụ án Đỗ Tuấn Anh về tội Mua bán trái phép chất ma túy; và các vụ án phát sinh trong công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19.
    • Tỷ lệ Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung được kiểm soát ở mức thấp và có xu hướng giảm đều qua các năm nhờ việc áp dụng chặt chẽ Thông tư liên tịch số 02/2017.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Chất lượng tranh tụng của một số KSV chưa đồng đều; còn tình trạng án bị hủy, sửa có lỗi chủ quan của KSV; việc kiểm sát các bản án sơ thẩm của Tòa án gửi chậm chưa có chế tài xử lý hữu hiệu. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực án gia tăng nhanh, biên chế cán bộ còn thiếu, cùng những bất cập trong quy định của BLTTHS năm 2015 chưa được sửa đổi kịp thời.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Cung cấp dữ liệu thực chứng: Hệ thống hóa số liệu tư pháp giai đoạn 2016 - 2021 trên địa bàn Hà Nội: VKS hai cấp đã THQCT đối với 38.923 bị cáo trên tổng số 40.644 bị cáo Tòa án thụ lý (tỷ lệ 95,69%), tỷ lệ xét xử đạt 99,8% số vụ và 99,09% số bị cáo so với tổng số đã truy tố. Mỗi năm tham gia giải quyết bình quân 6.419 vụ án với 10.820 bị cáo.
  • Làm rõ sự phát triển lập pháp: Chỉ rõ 8 cải tiến kỹ thuật lập pháp của BLTTHS năm 2015 và chứng minh 5 xung đột quy phạm còn tồn tại làm cản trở việc thực hiện quyền công tố.
  • Đóng góp kinh nghiệm quốc tế: Cung cấp thông tin phân tích về thủ tục nộp hồ sơ độc lập của Nhật Bản và cơ chế xét hỏi ưu tiên của Công tố viên Trung Quốc.

Đề xuất và giải pháp của tác giả

Khóa luận định hình 3 nhóm kiến nghị cụ thể:

  1. Hoàn thiện quy định của BLTTHS năm 2015: Sửa đổi Điều 266 để bổ sung thẩm quyền của VKS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; thống nhất cụm từ "kết luận về tội nhẹ hơn" giữa Điều 266, Điều 321 và Quy chế 505; điều chỉnh thứ tự xét hỏi tại Điều 307 theo hướng KSV là người hỏi trước về các căn cứ buộc tội; bổ sung cơ chế linh hoạt về số lần trả hồ sơ ĐTBS khi phát sinh chứng cứ mới; ban hành điều luật quy định cụ thể căn cứ kháng nghị phúc thẩm và thời hạn Tòa án phải giao quyết định sơ thẩm cho Viện kiểm sát.
  2. Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm sát viên: Tăng cường kỹ năng lập luận, xây dựng đề cương xét hỏi, dự thảo luận tội và kỹ năng đối đáp tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp.
  3. Tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành: Duy trì sự phối hợp chặt chẽ giữa VKSND, TAND và CQĐT theo Thông tư liên tịch 02/2017 nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không có căn cứ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình: Nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chưa bao quát toàn bộ các giai đoạn khác như xét xử phúc thẩm hay thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong địa bàn thành phố Hà Nội và mốc thời gian dừng lại ở năm 2021.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu có thể phát triển theo hướng đánh giá thẩm quyền công tố ở cả cấp phúc thẩm hình sự, so sánh thực tiễn giữa các đô thị lớn (như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh), hoặc khảo sát tác động của các nghị quyết thí điểm mô hình tổ chức tư pháp mới của Quốc hội sau năm 2021.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật tố tụng hình sự, Tư pháp hình sự: Nắm bắt khung lý thuyết về quyền công tố, cách phân tích các điều luật trong BLTTHS 2015 và phương pháp tiếp cận đối chiếu pháp luật so sánh (Nhật Bản, Trung Quốc).
  • Kiểm sát viên tập sự và cán bộ thực hành quyền công tố: Tham khảo kỹ năng xử lý các tình huống rút quyết định truy tố (Điều 285), giải quyết hồ sơ điều tra bổ sung (Điều 280, TTLT 02/2017) và phương pháp tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm.
  • Nghiên cứu sinh, tác giả đề tài tư pháp hình sự: Khai thác hệ thống bảng biểu số liệu tư pháp thực tế giai đoạn 2016 - 2021 của VKSND thành phố Hà Nội phục vụ so sánh thống kê.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự sơ thẩm của VKSND thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2021 đạt mức bao nhiêu?

Trong giai đoạn 2016 - 2021, VKSND hai cấp thành phố Hà Nội đã THQCT và kiểm sát xét xử 38.923 bị cáo trên tổng số 40.644 bị cáo Tòa án thụ lý sơ thẩm (đạt 95,69%). So với tổng số 38.519 bị cáo do VKS truy tố, tỷ lệ số vụ án và bị cáo được Tòa án đưa ra xét xử sơ thẩm đạt lần lượt 99,8% về số vụ và 99,09% về số bị cáo. Trung bình mỗi năm KSV tham gia xét xử sơ thẩm 6.419 vụ án với 10.820 bị cáo.

2. Theo tác giả, quy định về trình tự xét hỏi tại Điều 307 BLTTHS năm 2015 có điểm bất cập nào đối với vai trò của KSV?

Điều 307 quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là người điều hành và hỏi trước, hỏi chính, sau đó mới đến Hội thẩm và KSV. Quy định này khiến Thẩm phán làm thay nhiệm vụ chứng minh chứng cứ buộc tội của KSV, làm mất đi vị thế trọng tài trung lập khách quan của Tòa án và làm lu mờ vai trò chủ động của Viện kiểm sát - cơ quan đại diện Nhà nước thực hiện quyền công tố.

3. Pháp luật Nhật Bản quy định khác biệt thế nào về việc gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án trước phiên xử sơ thẩm?

Theo Điều 256 BLTTHS Nhật Bản, trước khi mở phiên tòa, Công tố viên chỉ nộp bản cáo trạng gồm lý lịch bị cáo, sự kiện phạm tội và tội danh, tuyệt đối không gửi hồ sơ, chứng cứ điều tra cho Tòa án. Hồ sơ chỉ được chuyển giao khi phiên tòa chính thức bắt đầu nhằm tránh để Thẩm phán hình thành định kiến trước khi xét xử.

4. Thuật ngữ "Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng" được BLTTHS năm 2015 chuẩn hóa tại điều khoản nào?

Khái niệm này được quy định cụ thể tại điểm o khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015: là việc cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do bộ luật quy định, xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

5. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn gì giữa Điều 266 và Điều 321 BLTTHS năm 2015 về quyền thay đổi tội danh của VKS?

Điểm c khoản 1 Điều 266 quy định VKS có quyền "kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn", trong khi khoản 3 Điều 321 quy định hướng kết luận của luận tội chỉ là "kết luận về tội nhẹ hơn". Sự không đồng nhất này gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật khi KSV phát biểu quan điểm xử lý tại phiên tòa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Khánh Linh đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Dựa trên việc phân tích các quy định của BLTTHS năm 2015 kết hợp nghiên cứu so sánh quốc tế và khảo sát thực chứng 38.923 bị cáo tại Hà Nội giai đoạn 2016 - 2021, công trình đã phát hiện những điểm nghẽn quy phạm cùng vướng mắc thực tiễn điển hình. Các kiến nghị sửa đổi luật và giải pháp nâng cao kỹ năng kiểm sát viên được đề xuất là tài liệu hữu ích cho hoạt động hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự hiện nay.