Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu sinh Phạm Xuân Thiên thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Bá Dương, bảo vệ năm 2014 thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Tác giả xuất phát từ bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển vượt khỏi biên giới quốc gia, làm cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trở thành một tất yếu khách quan. Hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi khách quan đối với Việt Nam, mở ra cơ hội phát triển nhưng đồng thời đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng. Đặc biệt, Việt Nam thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, nên cơ cấu kinh tế - xã hội còn tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn, tụt hậu kinh tế và chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày 14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đều nhấn mạnh đặc điểm thời đại: các nước có chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, dưới góc độ triết học chuyên ngành, vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh như một sự thống nhất của các mặt đối lập nhằm tạo động lực phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu.

  • Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Mục đích nghiên cứu: Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; khẳng định quan điểm và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm giải quyết tốt mối quan hệ này trong giai đoạn hiện nay.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ cụ thể):
      1. Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về hợp tác, đấu tranh; mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
      2. Phân tích thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
      3. Khẳng định quan điểm và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
    • Phạm vi nghiên cứu:
      • Về thời gian: Tập trung chủ yếu từ thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đến năm 2014; các tài liệu tham khảo được khảo cứu chủ yếu từ năm 2001 trở lại đây.
      • Về không gian: Địa bàn khảo sát thực tế do tác giả tự thực hiện tập trung tại một số tỉnh phía Bắc và một số địa phương tiêu điểm về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
      • Về nội dung: Luận án xác định hội nhập kinh tế quốc tế là mặt cơ bản, giữ vai trò trung tâm của hội nhập quốc tế; các lĩnh vực văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế, an ninh - quốc phòng được đề cập với tư cách là tiền đề hỗ trợ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các tài liệu trong và ngoài nước theo ba nhóm nội dung chính:

  • Các công trình nghiên cứu về hội nhập quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế:

    • Về hội nhập quốc tế: Công trình "Khu vực hóa và toàn cầu hóa - hai mặt của tiến trình hội nhập quốc tế" (Viện Thông tin Khoa học xã hội, 2000); các bài viết của Hoàng Khắc Nam ("Một số vấn đề về khái niệm hội nhập quốc tế", 2002; "Một số xu hướng lý luận về hội nhập quốc tế", 2006); Nguyễn Trọng Chuẩn ("Hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay", 2004); Phạm Quốc Trụ ("Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", 2011); Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Hồng Diễm ("Toàn cầu hóa hội nhập và phát triển bền vững từ góc nhìn triết học đương đại", 2011). Các công trình này phân tích bản chất, các cấp độ hội nhập, sự chia sẻ lợi ích, quyền lực và tính kỷ luật của các định chế quốc tế.
    • Về hội nhập kinh tế quốc tế: Cuốn sách kinh điển "The Theory of Economic Integration" (1961) của Béla Balassa; bài viết của Đậu Ngọc Xuân ("Về hội nhập kinh tế quốc tế", 2000); Lương Văn Kế ("Văn hóa với tư cách tiền đề của hội nhập kinh tế: Những kinh nghiệm quốc tế và khả năng vận dụng cho Việt Nam", 2005); Ngô Văn Điểm ("Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam", 2004). Các tác giả làm rõ việc gắn kết thể chế giữa thị trường quốc gia với thị trường khu vực và thế giới thông qua tự do hóa thương mại và bãi bỏ các rào cản.
  • Các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận của hợp tác, đấu tranh và mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế:

    • Nghiên cứu quốc tế và lý luận nền tảng: Fritz Machlup ("Một lịch sử tư tưởng về hội nhập kinh tế", 1977); M. Jovanovich ("Hội nhập kinh tế quốc tế: Giới hạn và triển vọng", 1998); Phạm Văn Đức ("Toàn cầu hóa trong bối cảnh Châu Á - Thái Bình Dương - Một số vấn đề Triết học", 2007); Grzegorz W. Kolodko ("Toàn cầu hóa và tương lai của các nước đang chuyển đổi", 2006); đề tài nghiên cứu khoa học QTCT.01 do Vũ Văn Hiền chủ trì ("Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ở Việt Nam", 2007); Thái Văn Long và Vũ Thế Tùng ("Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới của Việt Nam", 2012).
    • Mối quan hệ hợp tác - đấu tranh trong bối cảnh Việt Nam: Công trình của Vụ Hợp tác kinh tế đa phương - Bộ Ngoại giao ("Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá - vấn đề và giải pháp", 2002); Lê Thế Giới, Võ Xuân Tiến, Trương Bá Thanh ("Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững", 2005); Nguyễn Như Bình ("Những vấn đề cơ bản về thể chế hội nhập kinh tế quốc tế", 2005); Nguyễn Xuân Thắng ("Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam", 2007); Hoàng Ngọc Hoà ("Kinh tế tri thức và tác động của nó đến quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam", 2003; "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", 2007); Trương Đình Tuyển ("Tác động của việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam: Một năm nhìn lại", 2008); Nguyễn Phú Trọng ("Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục chủ động và tích cực hội nhập quốc tế", 2012).
  • Các công trình nghiên cứu về thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ hợp tác và đấu tranh:

    • Thực tiễn Việt Nam: Vũ Như Khôi ("Đảng Cộng sản Việt Nam với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế", 2006); Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế ("Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế", 2000); Vũ Dương Ninh ("Việt Nam - ASEAN. Mười năm đồng hành trên con đường hội nhập quốc tế 1995 - 2005", 2005; "Việt Nam - thế giới và hội nhập", 2007); Trần Đức Lương ("Việt Nam khởi động 5 năm đầu thế kỷ thắng lợi", 2006); Nguyễn Viết Thảo ("Đảm bảo mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế", 2011); Hoàng Chí Bảo ("Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XXI: Mục tiêu, con đường và mô hình phát triển", 2011).
    • Kinh nghiệm quốc tế và bài học lịch sử: Trần Khánh nghiên cứu về Đông Nam Á và Singapore (2002, 2008); Nguyễn Minh Phong nghiên cứu về Nhật Bản và các nước đang phát triển châu Á (2002); Nguyễn Duy Dũng nghiên cứu mở cửa ở Nhật Bản (2009); La Chay Sinh Su Van nghiên cứu chính sách đối ngoại của Lào (2006); Nguyễn Đình Lương, Đình Chúc, Trần Hoàng Hà nghiên cứu về Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (BTA, 2010); Đinh Xuân Lâm (2004) và Viện Hồ Chí Minh (2008) nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh trong quan hệ quốc tế.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc độ kinh tế học, luật học, khoa học chính trị hoặc nghiên cứu quốc tế thuần túy. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: luận giải mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh dưới lăng kính quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng duy vật, xác định đây là mối quan hệ giữa hai mặt đối lập thống nhất biện chứng; từ đó phân tích các mâu thuẫn thực tiễn nảy sinh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam để xác lập hệ thống quan điểm và giải pháp giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận và khung phân tích:

    • Luận án dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về mâu thuẫn xã hội và phương châm ứng xử ngoại giao "dĩ bất biến, ứng vạn biến".
    • Đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam về đổi mới toàn diện, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế đối ngoại.
    • Các khái niệm công cụ được xây dựng và xác định nội hàm:
      • Hợp tác: Quan hệ và sự tác động giữa con người với con người, được hình thành trên cơ sở thống nhất và thỏa mãn nhu cầu, sở thích, lợi ích; là "sự kết hợp của các mặt đối lập".
      • Hợp tác trong hội nhập kinh tế quốc tế: Mối quan hệ và sự tác động tích cực, chủ động giữa các cá nhân, tổ chức kinh tế, quốc gia dân tộc trên cơ sở thống nhất về nhu cầu và lợi ích nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích các bên.
      • Đấu tranh: Sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình dựa trên sự khác biệt hoặc đối lập. Trong kinh tế bao hàm cả phạm trù cạnh tranh.
      • Đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế: Sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau của các chủ thể hình thành trên cơ sở khác biệt về lợi ích nhằm giành ưu thế về quyền lợi, mang tính chính trị sâu sắc khi gắn liền với lợi ích quốc gia - dân tộc.
      • Mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế: Mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt đối lập của một chỉnh thể thống nhất; hợp tác là điều kiện, tiền đề cho đấu tranh, còn đấu tranh là phương thức, cơ sở để củng cố và nâng cao chất lượng hợp tác.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp luận chung: Phương pháp biện chứng duy vật được vận dụng nhất quán trong toàn bộ quá trình nghiên cứu.
    • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
      • Phương pháp lịch sử và lôgíc.
      • Phương pháp phân tích và tổng hợp.
      • Phương pháp quy nạp và diễn dịch.
      • Phương pháp so sánh và hệ thống hóa.
      • Phương pháp điều tra xã hội học (khảo sát thực tế).
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:

    • Nguồn văn kiện chính thức của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết, quyết định của Chính phủ (Nghị quyết 07-NQ/TW, Quyết định 37/2002/QĐ-TTg, Nghị quyết 16/2007/NQ-CP...).
    • Các công trình nghiên cứu khoa học, sách chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí lý luận chuyên ngành (Tạp chí Triết học, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận Chính trị, Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới...).
    • Dữ liệu khảo sát thực tế do tác giả thực hiện tại một số tỉnh phía Bắc và các địa phương trọng điểm về hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp tác, đấu tranh; mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Chương 1 xây dựng khung lý luận triết học về mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế:

  • Bản chất của hợp tác kinh tế: Tác giả chỉ ra rằng sản xuất vật chất là nền tảng của xã hội loài người. Hợp tác kinh tế là phương thức con người liên kết các nguồn lực (lao động, vốn, tri thức, khoa học công nghệ) để phát huy lợi thế so sánh. Dẫn luận điểm của V.I. Lênin về việc sử dụng chuyên gia tư sản và tiếp thu các thành tựu của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, luận án khẳng định hợp tác giữa các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau là tất yếu khách quan.
  • Bản chất của đấu tranh kinh tế: Đấu tranh trong hội nhập bắt nguồn từ sự khác biệt và mâu thuẫn về lợi ích kinh tế (phân chia thị trường, bảo vệ tư liệu sản xuất, phân phối của cải). Đấu tranh không đồng nhất với việc tiêu diệt hay thủ tiêu đối phương, mà là sự tác động qua lại để giải quyết bất đồng, bảo vệ chủ quyền kinh tế và lợi ích quốc gia - dân tộc.
  • Mối quan hệ biện chứng giữa hợp tác và đấu tranh: Luận án khẳng định hợp tác và đấu tranh là hai mặt đối lập trong cùng một quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hợp tác tạo môi trường và điều kiện vật chất cho đấu tranh; đấu tranh loại bỏ những bất hợp lý, bảo đảm sự công bằng, từ đó đưa quan hệ hợp tác lên tầm mức cao hơn.
  • Các yếu tố tác động: Phân tích tác động của bối cảnh toàn cầu hóa, xu hướng khu vực hóa, sự đan xen phức tạp giữa "đối tác" và "đối tượng", năng lực nội sinh của nền kinh tế và vai trò định hướng của thể chế chính trị Việt Nam.

Chương 2: Giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 2 tập trung phân tích thực tiễn thực hiện mối quan hệ hợp tác - đấu tranh tại Việt Nam từ sau khi gia nhập WTO và chỉ ra các mâu thuẫn cốt lõi:

  • Thực trạng và ưu điểm: Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong hợp tác song phương và đa phương, mở rộng quan hệ thương mại quốc tế, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), từng bước vận động các thành viên WTO công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường để tạo cơ chế công bằng trong giải quyết các vụ tranh chấp thương mại.
  • Hạn chế và hai khuynh hướng sai lệch:
    • Xu hướng thứ nhất (Tuyệt đối hóa đấu tranh): Chỉ nhìn thấy sự xung đột, khác biệt về lợi ích cơ bản mà bỏ qua những điểm đồng nhất của các lợi ích không cơ bản; dẫn đến phương thức ứng xử cứng nhắc, do dự, thụ động trong hội nhập.
    • Xu hướng thứ hai (Tuyệt đối hóa hợp tác): Chỉ chú trọng sự phụ thuộc lẫn nhau về lợi ích trước mắt, chạy theo tăng trưởng mà lơ là các mâu thuẫn cơ bản, dẫn đến mất cảnh giác trước âm mưu "diễn biến hòa bình" và sự chuyển hóa chế độ.
  • Ba mâu thuẫn lớn đang đặt ra:
Thứ tự Mâu thuẫn đặt ra Nội dung bản chất
Mâu thuẫn 1 Mâu thuẫn giữa yêu cầu về phẩm chất, năng lực của chủ thể với thực trạng hạn chế, bất cập Yêu cầu cán bộ, doanh nghiệp phải có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, am hiểu luật pháp quốc tế và bản lĩnh chính trị vững vàng đối lập với thực trạng đội ngũ còn thiếu kinh nghiệm, hạn chế kỹ năng đàm phán và xử lý tranh chấp thương mại quốc tế.
Mâu thuẫn 2 Mâu thuẫn giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với việc gắn kết sâu vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Yêu cầu giữ vững tự chủ kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia đối lập với nguy cơ bị lệ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài, thị trường nước ngoài và các biến động tài chính toàn cầu.
Mâu thuẫn 3 Mâu thuẫn giữa hạn chế của hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật trong nước với quy định chặt chẽ của luật pháp quốc tế Hệ thống pháp luật kinh tế trong nước còn chồng chéo, thiếu đồng bộ đối lập với các chuẩn mực, định chế và cam kết quốc tế đòi hỏi tính minh bạch, kỷ luật và lộ trình cắt giảm bảo hộ nghiêm ngặt.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp toàn diện:

  • Ba quan điểm cơ bản:
    1. Hợp tác là điều kiện cho đấu tranh; đấu tranh là cơ sở để thúc đẩy hợp tác trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
    2. Kết hợp hội nhập kinh tế quốc tế với kiên quyết đấu tranh giữ vững nền kinh tế độc lập, tự chủ.
    3. Nâng cao ý thức trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước trong giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh.
  • Bốn nhóm giải pháp cơ bản:
    1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia pháp lý và doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, thông thạo luật pháp và tập quán thương mại quốc tế, có bản lĩnh chính trị vững vàng để trực tiếp xử lý các vấn đề hợp tác và đấu tranh.
    2. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế và pháp luật: Rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với các cam kết quốc tế nhưng bảo đảm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và an ninh kinh tế trong nước.
    3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở rộng và tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại: Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm quốc gia; đa dạng hóa thị trường đối tác để tránh phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.
    4. Xây dựng môi trường chính trị - xã hội ổn định; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh: Nâng cao thế và lực của đất nước; chủ động phòng chống các thủ đoạn lợi dụng hội nhập kinh tế để xâm phạm an ninh quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận:

    • Phân tích và làm rõ nội hàm các khái niệm "hợp tác", "đấu tranh", "hợp tác trong hội nhập kinh tế quốc tế", "đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế" dưới góc độ triết học duy vật biện chứng.
    • Khái quát khái niệm trung tâm: "Mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam" như một chỉnh thể thống nhất của các mặt đối lập, chỉ ra các nội dung cấu thành cơ bản của mối quan hệ này.
    • Nhận diện và hệ thống hóa 3 mâu thuẫn lớn trong thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, cung cấp cơ sở phương pháp luận để nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn này nhằm phát huy vai trò động lực phát triển kinh tế - xã hội.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:

    • Đánh giá khách quan thực trạng hai xu hướng nhận thức sai lệch (tuyệt đối hóa đấu tranh hoặc tuyệt đối hóa hợp tác) trong thực tiễn đối ngoại kinh tế của Việt Nam.
    • Xác lập hệ thống 3 quan điểm mang tính nguyên tắc và 4 nhóm giải pháp đồng bộ, khả thi, giúp các chủ thể tham gia hội nhập vừa tận dụng được nguồn lực quốc tế, vừa kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:

    • Phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án chủ yếu tập trung từ khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007) đến năm 2014, do đó chưa bao quát được các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) xuất hiện ở giai đoạn sau.
    • Hoạt động khảo sát thực tế bị giới hạn về không gian tại một số tỉnh phía Bắc và một số địa phương tiêu điểm, chưa thực hiện khảo sát diện rộng trên toàn bộ các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và miền Trung.
    • Các tài liệu tham khảo và nguồn dữ liệu phần lớn là tiếng Việt được công bố từ sau năm 2001.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng nghiên cứu mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và các liên kết kinh tế quốc tế phức tạp hơn.
    • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tế trên quy mô toàn quốc và bổ sung các nghiên cứu so sánh quốc tế đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi khác.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Quan hệ quốc tế và Ngoại giao.
    • Cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện.
    • Các nhà quản lý kinh tế đối ngoại, cán bộ hoạch định chính sách hội nhập, chuyên gia tư vấn pháp lý và các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào thị trường thương mại, đầu tư quốc tế.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:

    • Khung lý luận về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong kinh tế đối ngoại tại Chương 1.
    • Phân tích 3 mâu thuẫn thực tiễn và nhận diện hai xu hướng sai lệch trong nhận thức tại Chương 2.
    • Hệ thống quan điểm chỉ đạo và 4 nhóm giải pháp kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa như thế nào về khái niệm "hợp tác trong hội nhập kinh tế quốc tế"?
Theo tác giả, hợp tác trong hội nhập kinh tế quốc tế là mối quan hệ và sự tác động mang tính tích cực, chủ động giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế, các quốc gia dân tộc... được hình thành trên cơ sở thống nhất về nhu cầu, lợi ích nhằm đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích của các bên tham gia.

2. Khái niệm "đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế" có nội hàm cụ thể ra sao theo quan điểm của tác giả?
Đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, các quốc gia dân tộc... được hình thành trên cơ sở khác biệt về lợi ích, nhu cầu, nhằm giành lấy ưu thế về quyền lợi, lợi ích cho mình. Hình thức biểu hiện phổ biến nhất của nó là cạnh tranh trong thương mại và đầu tư, đồng thời luôn mang đậm màu sắc chính trị gắn liền với lợi ích quốc gia - dân tộc.

3. Hai xu hướng sai lệch nào đã xuất hiện trong việc giải quyết mối quan hệ hợp tác - đấu tranh ở Việt Nam?
Luận án chỉ ra hai xu hướng:

  • Xu hướng thứ nhất: Tuyệt đối hóa đấu tranh, chỉ thấy sự khác biệt về lợi ích cơ bản mà không thấy sự thống nhất của lợi ích không cơ bản, dẫn đến cách ứng xử cứng nhắc, thụ động.
  • Xu hướng thứ hai: Tuyệt đối hóa hợp tác, đề cao hợp tác bằng mọi giá vì lợi ích kinh tế trước mắt mà lơ là, mất cảnh giác trước âm mưu chống phá và các mâu thuẫn cơ bản.

4. Ba mâu thuẫn chủ yếu đặt ra trong thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là gì?
Ba mâu thuẫn được luận án xác định gồm:

  1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao về phẩm chất, năng lực của chủ thể với những hạn chế, bất cập thực tế của họ.
  2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với việc gắn kết sâu vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu.
  3. Mâu thuẫn giữa những bất cập về cơ chế, chính sách, pháp luật Việt Nam với các quy định chặt chẽ của luật pháp quốc tế.

5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp cơ bản để giải quyết mối quan hệ hợp tác và đấu tranh?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản: (1) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (2) Bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế và pháp luật; (3) Đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở rộng kinh tế đối ngoại; (4) Xây dựng môi trường chính trị - xã hội ổn định, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Xuân Thiên đã vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất của hợp tác và đấu tranh như hai mặt đối lập thống nhất biện chứng, nhận diện sâu sắc ba mâu thuẫn cốt lõi trong thực tiễn và chỉ ra hai khuynh hướng nhận thức sai lệch cần khắc phục. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống quan điểm và giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa.