Mở đầu Giới thiệu đề tài tác giả sẽ viết, tình hình nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, tính khoa học của đề tài, mục đích, đối tƣợng, phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu, đóng góp của luận văn. Phần II: Nội dung Bao gồm các chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan về NQTM và hợp đồng NQTM Chƣơng 2: Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng NQTM Chƣơng 3: Giao kết và thực hiện hợp đồng NQTM - Một số vƣớng mắc và kiến nghị giải quyết. Phần III: Kết luận Do trình độ hiểu biết còn hạn chế, tài liệu tham khảo không nhiều, đồng thời, đây cũng là công trình nghiên cứu khoa học đầu tay, vậy nên, luận văn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Tác giả rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các độc giả.
Trân trọng cảm ơn! 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI VÀ HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm chung về nhƣợng quyền thƣơng mại 1. Nhƣợng quyền thƣơng mại, tiếng anh là franchise, là khái niệm xuất hiện từ giữa thế kỷ 19 tại Châu Âu. Franchise có nguồn gốc tiếng Pháp “franc” có nghĩa là tự do, tiếng Anh là “free” [ 12; tr.
Nhiều tài liệu tiếng Việt dịch “franchise” là nhƣợng quyền kinh doanh hoặc nhƣợng quyền thƣơng mại, tức là cho phép ai đó đƣợc bán hàng hoá hay dịch vụ của bên có quyền tại một khu vực cụ thể nào đó mang thƣơng hiệu của bên có quyền. Một số tài liệu cho rằng “franchise” là một đặc quyền đƣợc trao cho một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời để phân phối hay bán sản phẩm của chủ thƣơng hiệu dƣới sự kiểm soát của chủ thƣơng hiệu về cách thức kinh doanh. Để thống nhất với Luật Thƣơng mại 2005, bài viết sẽ đề cập đến “franchise” với nghĩa là nhƣợng quyền thƣơng mại. Nhƣợng quyền Thƣơng mại là một phƣơng thức kinh doanh rất phổ biến trên thế giới.
Đã có nhiều tổ chức về NQTM nhƣ: Hiệp hội nhƣợng quyền thƣơng mại quốc tế (The International Franchise Association - IFA), Hội đồng nhƣợng quyền thƣơng mại thế giới (WFC), Uỷ ban thƣơng mại liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade Commission- FTC) … để hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Hoạt động NQTM liên quan đến rất nhiều vấn đề, trong đó, hợp đồng NQTM chính là hạt nhân quan trọng nhất để thiết lập mối quan hệ giữa các bên. Hầu nhƣ mọi quốc gia đều có quy định pháp lý về hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại. Các công trình nghiên cứu về hoạt động nhƣợng quyền thƣơng mại nói chung, về hợp đồng thƣơng mại nói riêng cũng có khá nhiều và đã nêu ra đƣợc những vấn đề cơ bản nhất cũng nhƣ cách thức để áp dụng NQTM có hiệu quả.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là một hoạt động thƣơng mại đã thành công ở nhiều nƣớc trên thế giới và ngày càng phát triển, lan rộng ra các nƣớc ở châu Á. Tuy vậy, khái niệm franchise không có sự thống nhất do quan điểm chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau ở các nƣớc trên thế giới. Do đó, có rất nhiều các cách hiểu khác nhau liên quan đến khái niệm franchise mà Luật thƣơng mại năm 2005 gọi là nhƣợng quyền thƣơng mại. Hiệp hội NQTM quốc tế, hiệp hội lớn nhất nƣớc Mỹ và thế giới đã định nghĩa NQTM nhƣ sau: “NQTM là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa bên giao và bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận quyền trên các khía cạnh nhƣ: bí quyết kinh doanh (know- how), đào tạo nhân viên; Bên nhận quyền hoạt động dƣới nhãn hiệu hàng hoá, phƣơng thức, phƣơng pháp kinh doanh do Bên giao sở hữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽ tiến hành đầu tƣ đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”.
Theo định nghĩa này, vai trò của bên giao quyền đƣợc nhấn mạnh bởi việc kiểm soát liên tục cách thức kinh doanh, còn bên nhận quyền đƣợc nhấn mạnh bởi sự đầu tƣ vốn của chính họ vào công việc kinh doanh đó. Uỷ ban Thƣơng mại liên bang Hoa Kỳ lại đƣa ra cách hiểu về NQTM thông qua hợp đồng NQTM. Trong hợp đồng này, bên giao: (i) hỗ trợ đáng kể cho bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phƣơng pháp điều hành doanh nghiệp của bên nhận. (ii), lixăng nhãn hiệu cho bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hoá của bên giao và (iii), yêu cầu bên nhận thanh toán cho bên giao một khoản phí tối thiểu.
Theo quy tắc đạo đức về NQTM của Châu Âu thì “NQTM là một loạt các hoạt động tiếp thị bán hàng hoá, dịch vụ hay công nghệ cơ bản dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các bên độc lập vê tài chính và pháp lý, gọi là Bên nhƣợng quyền và Bên nhận quyền. Theo đó, bên nhƣợng quyền trao cho bên nhận quyền các quyền và yêu cầu bên nhận quyền phải tuân thủ các quy tắc và tiến hành kinh doanh theo nguyên tắc của bên trao quyền. Bên nhận quyền sẽ phải trả một khoản phí trực tiếp hay gián tiếp để có đƣợc quyền kinh doanh từ bên nhƣợng quyền, là các quyền sử dụng tên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thƣơng mại, nhãn hiệu thƣơng mại hoặc nhãn hiệu dịch vụ, bí quyết, các phƣơng thức kỹ thuật kinh doanh, hệ thống thủ tục, quyền sở hữu trí tuệ khác nếu có. Bên nhận quyền còn đƣợc hỗ trợ bởi các điều khoản của hợp đồng NQTM đƣợc ký kết giữa các bên, ví dụ nhƣ hỗ trợ về đào tạo, quảng cáo, quản lý.
Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của việc NQTM về mặt hỗ trợ kỹ thuật và nhấn mạnh tới việc chuyển giao “kiến thức kỹ thuật” (technical knowledge) để bán sản phẩm, dịch vụ đồng bộ và có chất lƣợng. “ NQTM tồn tại khi với một lixăng cấp quyền sử dụng một thƣơng hiệu nhất định, có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một ngƣời sản xuất, chế tạo hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với phƣơng pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thƣơng mại, hoặc hành chính đã đƣợc chủ thƣơng hiệu thiết lập, với chất lƣợng, danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm, hoặc dịch vụ đã đƣợc tạo lập dƣới thƣơng hiệu đó”. Ở Nga, thoả thuận NQTM đƣợc định nghĩa là “sự nhƣợng quyền thƣơng mại” (commerical concession). Chƣơng 54 Bộ luật dân sự Nga định nghĩa bản chất pháp lý của sự nhƣợng quyền thƣơng mại: nhƣ sau: “Theo hợp đồng nhƣợng quyền thƣơng mại, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền đƣợc sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thƣơng mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tƣợng khác nhƣ nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ…”.
Nhƣ vậy, định nghĩa của Nga nghiêng về phía Bên có quyền chuyển giao một số quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho bên nhận với một khoản phí nhất định mà không đề cập tới việc kiểm soát hay hỗ trợ hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền cũng nhƣ nghĩa vụ của bên nhận quyền. Định nghĩa này có vẻ giống nhƣ định nghĩa về chuyển giao công nghệ trong pháp luật Việt Nam. Giáo sƣ Andrew Terry- Hiệu trƣởng trƣờng Đại học thuế và quản trị kinh doanh thuộc Đại học Newsouthwale đƣa ra bản chất và hoạt động của hệ thống 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NQTM nhƣ sau: “ NQTM là hệ thống huy động đƣợc sự sáng tạo, năng động và ngày càng trở thành một phƣơng thức kinh doanh phổ biến đối với những doanh nghiệp đang tồn tại và mới hình thành. Trong hệ thống NQTM, bên nhƣợng quyền phải phát triển đƣợc những khái niệm kinh doanh đã thành công và đã đƣợc công nhận và xây dựng xung quanh những ngƣời nhận quyền hệ thống đã đƣợc thừa nhận, những lixăng để ngƣời nhận quyền sử dụng khái niệm và hệ thống của họ theo một phƣơng thức đƣợc kiểm soát tại một địa điểm xác định và một thời điểm nhất định tại cơ sở kinh doanh của ngƣời nhận quyền hoặc tại những cơ sở khác.
Có quan niệm khác cho rằng NQTM là nhƣợng quyền một mô hình kinh doanh (Business format franchises), tức là bên nhƣợng quyền cấp Giấy phép trao quyền cho bên nhận quyền sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ dƣới thƣơng hiệu của bên nhƣợng quyền. Bên nhận quyền phải đóng một khoản phí để có đƣợc quyền này và một tỷ lệ phần trăm trên doanh thu gộp trong giai đoạn khai thác đặc quyền. Luật Thƣơng mại 2005 của Việt Nam đƣa ra định nghĩa về NQTM nhƣ sau: “NQTM là hoạt động thƣơng mại, theo đó bên nhƣợng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đƣợc tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhƣợng quyền quy định và đƣợc gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thƣơng mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tƣợng kinh doanh, quảng cáo của bên nhƣợng quyền; 2.
Bên nhƣợng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh. Nhƣ vậy, có thể hiểu NQTM là cách bán quyền thƣơng mại của bên nhƣợng quyền với điều kiện có thu phí và đƣợc quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền. Phạm vi quyền thƣơng mại đƣợc cụ thể hóa trong hợp đồng, có thể 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là sự thỏa thuận giữa các bên cũng có thể là do ý chí của bên nhƣợng quyền đƣa ra và bên nhận quyền chấp nhận. Bên nhận quyền tự mình kinh doanh, tức là khai thác các “quyền thƣơng mại” của bên nhƣợng quyền, thông thƣờng là bán hàng hoá, dịch vụ gắn với một nhãn hiệu đã nổi tiếng, đƣợc đông đảo ngƣời tiêu dùng chấp nhận.
Bên nhận quyền tự mình kinh doanh những hàng hoá đã có sẵn và theo phƣơng thức do bên nhƣợng quyền quy định mà không đƣợc phép thay đổi phƣơng thức kinh doanh đó theo ý tƣởng sáng tạo của mình.