Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được kết cấu 4 chương, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng liên doanh và pháp luật về hợp đồng liên doanh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông; Chƣơng 3: Thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện về hợp đồng liên doanh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam hiện nay; Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giao kết và thực hiện hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam hiện nay. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc Với tính cách là một thang đo trong tiến trình tự do hóa thị trường dịch vụ viễn thông, hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông không phải là vấn đề xa lạ, mới trong thương mại quốc tế. Theo đó, hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông đã được nhiều học giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau với những cách tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau và dẫn đến quan điểm khác nhau, kết quả nghiên cứu khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập đến hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông như là một nội dung trong chủ đề lớn hơn là dịch vụ viễn thông và tự do hóa dịch vụ viễn thông trong khuôn khổ WTO và khu vực.
Có thể nêu ra một số công trình sau: - Peter Cowhey and Mikhail M. Klimenko (2002), The WTO agreement and Telecommunication policy reforms, University of California in San Diego. Theo các tác giả, cuộc cách mạng công nghệ, những thay đổi trong cơ cấu cạnh tranh của nền kinh tế thế giới và nhu cầu về tài chính đã khiến nhiều quốc gia thay đổi chính sách của họ cho ngành công nghiệp viễn thông trong 15 năm qua. Tuy nhiên trong quá trình phát triển và chuyển đổi nền kinh tế mỗi quốc gia lựa chọn cách tiếp cận khác nhau để tự do hóa dịch vụ và tư nhân hóa.
Kết quả là, mức độ tự do hóa dịch vụ, các quy định về tự do hóa dịch vụ, và cách tiếp cận để mở cửa thị trường viễn thông trong nước để thị trường viễn thông toàn cầu phát triển là rất khác nhau. Mặc dù vậy, trong bất cứ mô hình tự do hóa dịch vụ viễn thông như thế nào, hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông được xem là công cụ pháp lý quan trọng để để các nhà đầu tư nước ngoài gia nhập vững chắc vào thị trường viễn thông của nước sở tại. Các tác giả cũng đã bình luận nhiều nội dung cơ bản của hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông: chủ thể, nội dung cơ bản của hợp đồng, thương quyền và giấy phép, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, giải quyết tranh chấp. - Aaditya Mattoo, Robert M.
Stern và Gianni Zanini (2008), A Handbook of International Trade in Services, Nxb Đại học Oxford. Bourguignon - 10 Phó Chủ tịch của Ngân hàng Thế giới (WB - World Bank), tự do hóa lĩnh vực dịch vụ có vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển. Tự do hóa dịch vụ có tác động trực tiếp do dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, nếu không muốn nói là lớn nhất. Không những thế, các dịch vụ như tài chính, viễn thông cũng như giáo dục và y tế… gián tiếp tác động và có ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Nói đến tự do hóa thương mại dịch vụ không chỉ là nói đến thương mại trong khía cạnh thông thường mà còn có nghĩa là toàn bộ phạm vi của các giao dịch quốc tế, bao gồm cả đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tự do hoá TMDV theo đó liên quan đến việc giảm bớt các hàng rào hạn chế tiếp cận thị trường và phân biệt đối xử trong tất cả 4 phương thức cung cấp dịch vụ theo cách định nghĩa của WTO. Không nên nhầm lẫn tự do hoá TMDV với quá trình bãi bỏ dần các quy định mà nhiều nước đang theo đuổi. Tâm điểm của quá trình bãi bỏ dần các quy định là giảm bớt các quy định của chính phủ trong một ngành, trong khi đó tự do hoá phải đảm bảo những quy định hiện thời không được phân biệt đối xử với các công ty nước ngoài trên thị trường.
Với cách tiếp cận này, hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông trở thành tiêu chuẩn để đánh giá mức độ tự do hóa thị trường dịch vụ viễn thông ở mỗi quốc gia. Các tác giả đã tập trung đánh giá các nội dung cơ bản của hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông: mức độ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, thương quyền và thủ tục cấp phép khai thác dịch vụ viễn thông, quản trị rủi ro và quản trị xung đột pháp lý trong hợp đồng, vấn đề thoái vốn của nhà đầu tư nước ngoài khi hết thời hạn liên doanh. - Mari Pangestu and Debbie Mrongowius (2010), Telecommunication services in China: Facing the challenges of WTO accession. Theo các tác giả, mặc dù Trung Quốc đã mở cửa ngành công nghệ thông tin cho đầu tư nước ngoài, đồng thời bãi bỏ nhiều hàng rào bảo hộ nền kinh tế, ngành Viễn thông của Trung Quốc vẫn là ngành bị hạn chế và điều tiết nhiều nhất so với các nước đang phát triển trong khu vực.
Dịch vụ viễn thông được coi là một trong những ngành “trọng điểm quốc gia” của Trung Quốc. Trung Quốc dự kiến sẽ trở thành thị trường dịch vụ viễn thông lớn nhất thế giới vào cuối thập kỷ này, tạo ra một động lực mạnh mẽ cho các nhà đầu tư nước ngoài. Những trở ngại phải đối mặt bao gồm khuôn khổ luật pháp và tính độc lập về quản lý, 11 đa dạng hóa các thành phần kinh doanh, đặc biệt là việc tham gia khai thác của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường viễn thông nội địa. Đến nay, có thể khẳng định, Trung Quốc vẫn chưa có khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh cho hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông.
- Takatoshi Ito, Anne O. Krueger (2008), Trade in services in the Asia-Pacific region. Trên cơ sở chỉ rõ những yêu cầu của GATS, các tác giả đã tập trung phân tích các biện pháp của các nước thành viên trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương đang duy trì về mặt luật pháp hoặc ban hành các quy định về những biện pháp sau không phù hợp với GATS và Hiệp định về dịch vụ viễn thông cơ bản của WTO, cụ thể: (i) Hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ viễn thông dù dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, độc quyền cung cấp dịch vụ hoặc theo yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế; (ii) Hạn chế về tổng giá trị các giao dịch về dịch vụ viễn thông hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng, hoặc yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu kinh tế; (iii) Hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ viễn thông hoặc tổng số lượng dịch vụ viễn thông đầu ra tính theo số lượng đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế; (iv) Hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vực dịch vụ viễn thông cụ thể hoặc một người cung cấp dịch vụ viễn thông được phép tuyển dụng cần thiết hoặc trực tiếp liên quan tới việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế; (v) Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanh thông qua đó nhà cung cấp có thể cung cấp dịch vụ viễn thông. Trên cơ sở đó, các tác giả cũng chỉ rõ những rủi ro pháp lý trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông ở các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
- Joachim Scherer, “Sự phát triển của pháp luật viễn thông trong những năm 2000-2002”, Tạp chí Tư pháp mới hàng tuần số 14/2003. Theo đó, tác giả đã chỉ rõ hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông là một kênh pháp lý quan trọng để các tập đoàn viễn thông nước ngoài thâm nhập vào những thị trường viễn thông mới nổi. Trên cơ sở những phân tích về những thay đổi trong điều chỉnh pháp luật viễn thông của CHLB Đức, Liên minh Châu Âu và các 12 quốc gia chuyển đổi, tác giả cũng đưa ra các định hướng quản trị các hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông trong thời gian tới. Ngoài những công trình kể trên, còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác, tiếp cận ở hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông từ phương diện quản trị rủi ro, xung đột pháp lý.
và giải quyết tranh chấp tại cơ quan tài phán quốc gia và quốc tế. Những bài viết đó có tính ứng dụng trong thực tiễn áp dụng pháp luật, hay kinh nghiệm khởi kiện để áp dụng các biện pháp trong giải quyết tranh chấp về dịch vụ viễn thông.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Khác với Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), Hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam là vấn đề còn khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu tổng thể và toàn diện. Trên thực tế cũng cũng đã có một số công trình nghiên cứu ở các mức độ (trực tiếp, gián tiếp) có liên quan đến Hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam ở những góc độ kinh tế, pháp lý khác nhau, như: + Cuốn “Rào cản trong thương mại quốc tế” của Viện nghiên cứu thương mại, do PGS TS Đinh Văn Thành chủ biên (2005). Trong cuốn sách này tác giả chủ yếu trình bày và giới thiệu những vấn đề cơ bản về các rào cản trong thương mại quốc tế ở góc độ kinh tế, kỹ thuật, rào cản pháp lý đối với thương mại dịch vụ.Trong cuốn sách này, dịch vụ viễn thông và Hợp đồng liên doanh kinh doanh dịch vụ viễn thông chỉ được đề cập rất sơ lược mang tính giới thiệu; + Bài “Tác động của hội nhập kinh tế khi Việt Nam ra nhập WTO” của Ths.
Trần Hồng Minh (2006) đăng trên tạp chí Kinh tế và dự báo.