Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về phê bình sinh thái 1. Khái niệm phê bình sinh thái Từ khi ra đời đến nay, phê bình sinh thái được gọi với nhiều tên gọi khác nhau: Chủ nghĩa phê bình sinh thái (Ecocriticism), Phê bình văn học sinh thái (Ecological literary criticism), Phê bình xanh (Green studies), Phê bình văn hóa xanh (Green cultural studies), Thi pháp sinh thái (Ecopoetics), Sinh thái học văn học (Literary ecology), Phê bình văn học môi trường (Environmental literary criticism), Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature and environment). Trong đó, hai thuật ngữ được giới nghiên cứu sử dụng nhiều nhất là Phê bình sinh thái (Ecocriticism) và Nghiên cứu văn học và môi trường (Studies of literature and environment).
Hiện nay, giới nghiên cứu dường như thống nhất gọi khoa học liên ngành này với tên gọi Phê bình sinh thái. Trong công trình nghiên cứu Rừng khô, suối cạn, biển độc và văn chương phê bình sinh thái, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã dẫn lời giải thích của giáo sư Cheryll Glotfelty về tên gọi này như sau: “phần lớn các học giả thích dùng thuật ngữ phê bình sinh thái (ecocriticism) “vì nó ngắn gọn và có thể dễ dàng tạo thành dạng thức khác là ecocritical (tính chất phê bình sinh thái) và ecocritic (nhà phê bình sinh thái). Hơn nữa, họ thích tiền tố “eco-” (sinh thái) hơn tiền tố “enviro-” (môi trường) bởi vì. theo nghĩa rộng, tiền tố “enviro-” (môi trường) mang quan điểm con người là trung tâm và có tính nhị nguyên, ngụ ý rằng, con người chúng ta là trung tâm, tất cả xung quanh chúng ta là môi trường.
Ngược lại, tiền tố “eco-” (sinh thái) ám chỉ vạn vật cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, tạo thành một hệ thống và những yếu tố trong hệ thống đó luôn có sự hòa hợp, gắn bó chặt chẽ với nhau”[32, tr139] 12 download by : skknchat@gmail.com Các học giả phương Tây đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về phê bình sinh thái, chẳng hạn, định nghĩa của Joseph Meeker, William Rueckert, Cheryll Glotfelty, James S. Hans, Scott Slovic, Cheryll Glotfety, William Howarth, Lawrence Buell. Trong đó, định nghĩa của Cheryll Glotfety là định nghĩa được ghi nhận rộng rãi. Cheryll Glotfety cho rằng: “Nói đơn giản, phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên.
Cũng giống như phê bình nữ quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxist mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học”[2,tr89] Học giả Trung Quốc là Vương Nặc định nghĩa: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái. Nó phải phơi bày nguồn gốc văn hóa tư tưởng của nguy cơ sinh thái được phản ánh trong tác phẩm văn học, đồng thời khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện của nghệ thuật của nó trong tác phẩm”[32,tr153] Nguyễn Thị Tịnh Thy đề xuất định nghĩa như sau: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái thông qua việc khám phá thẩm mĩ sinh thái và biểu hiện nghệ thuật của nó trong tác phẩm” [32,tr157] Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân, hiện nay đang có hai cách hiểu khác nhau về phê bình sinh thái. Theo cách hiểu thứ nhất, phê bình sinh thái “ám chỉ mọi nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học với môi trường vật lý”. Cách hiểu thứ hai, “mang tính đặc thù của thời đại toàn cầu hóa: nghiên cứu số phận của môi trường sinh thái dưới tác động của con người từ góc nhìn của văn học”[4,tr90].
Nhà nghiên cứu cũng khẳng định, “Phê bình sinh thái trước hết là một phong trào hiện đại nằm trong phong trào văn hóa - xã hội bảo vệ môi trường”. [4,tr93] 13 download by : skknchat@gmail.com Tựu trung lại, có rất nhiều định nghĩa về phê bình sinh thái, tuy nhiên phần lớn các học giả trên thế giới và Việt Nam đều thừa nhận và sử dụng khái niệm của Cherlly Glottfelty - nhà phê bình sinh thái Mĩ, đồng thời là học giả đầu tiên nhận được danh hiệu “Giáo sư văn học và môi trường”. Bởi định nghĩa của bà thể hiện rõ mối quan hệ bình đẳng giữa con người với tự nhiên. Khi con người hòa nhập vào mối quan hệ ấy đòi hỏi con người đánh giá lại thái độ, điều chỉnh xem xét lại thái độ văn hóa, văn minh với tự nhiên.
Bởi vậy khi nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với sinh thái thì con người- bản thân nó là phép tắc của tự nhiên. Khi con người sống hài hòa, thân mật, hòa hợp với tự nhiên thì sự sống sẽ luôn phát triển. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với định nghĩa của tác giả Cherlly Glottfelty và coi đây là định nghĩa quan trọng xuyên suốt quá trình nghiên cứu để triển khai các nội dung trong đề tài. Theo các nhà nghiên cứu, phê bình sinh thái có 6 đặc trưng cơ bản, đó là: Chú ý đến đạo đức sinh thái; Đọc lại văn học kinh điển truyền thống từ góc nhìn sinh thái; Giữ vững lập trường chủ nghĩa sinh thái trung tâm; Có tính liên ngành; Thể hiện tinh thần văn hóa sinh thái thông qua “tính văn học”; Hàm nghĩa của thuật ngữ rất phức tạp.
Phê bình sinh thái có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển văn hóa, Karen Thornber khẳng định: “Đây là một lý thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và khoa học, giữa phân tích văn chương và rút ra những cảnh báo về môi trường. Nó có thể không đưa ra được những giải pháp trực tiếp cho những vấn đề môi trường nghiêm trọng hiện nay nhưng bằng cách phân tích các diễn ngôn về thiên nhiên và môi trường, nó có thể tác động đến tâm thức con người, điều chỉnh nhận thức, khắc phục những ngộ nhận về môi trường, để từ đó, có những hành động đúng đắn hơn, hướng đến sự phát triển bền vững và xa hơn, đồng thời quan trọng hơn cả, là hình thành một chủ nghĩa nhân văn mới, ở đó, con người biết nghe tiếng nói của thiên nhiên để đối thoại với nó.” [16, tr72] 14 download by : skknchat@gmail.com Trên đây là những điểm khái quát nhất về khái niệm phê bình sinh thái. Khái niệm này sẽ là tiền đề lí luận quan trọng đầu tiên giúp chúng tôi triển khai luận văn này. Sự hình thành và phát triển của phê bình sinh thái Khí hậu trái đất nóng lên, sự thay đổi lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ thổ nhưỡng, chuyển động tuần hoàn khí quyển, hạn hán, hoang mạc hóa, mưa lớn, bão tuyết, sự tan chảy của các sông băng và băng ở Nam Bắc cực, sự hỗn loạn của hệ thống các dòng chảy đại dương, mực nước biển dâng cao, sự rối loạn mô thức sinh trưởng và sinh sản loài cũng như tuyệt chủng loài… những hiện tượng bất thường này (hay nói cách khác là nguy cơ sinh thái) chính là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của phê bình sinh thái.
Đỗ Văn Hiểu trong bài viết Phê bình sinh thái - khuynh hướng nghiên cứu văn học mang tính cách tân khẳng định: “. một phần rất lớn là Phê bình sinh thái ra đời không phải từ khát vọng sáng lập lí thuyết mới của các nhà phê bình, cũng không phải xuất phát từ nội bộ nghiên cứu văn học, mà là từ sự thúc đẩy của nguy cơ sinh thái”. [13, tr3] Nguyễn Thùy Trang trong bài viết “Sự lật đổ quan niệm “nhân loại trung tâm” trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại” đã giới thiệu một cách ngắn gọn nhất bối cảnh dẫn đến sự ra đời của phê bình sinh thái như sau: “Vào năm 1969, lần đầu tiên nhân loại được chiêm ngưỡng những hình ảnh của Trái đất nhìn từ Mặt trăng. Sự kiện này khiến con người thực sự xúc động, vì nó giúp chúng ta nhận thức được sự nhỏ bé và mong manh của Trái đất giữa thiên hà.
Rồi sau đó, hàng loạt những chấn động xảy ra, sóng thần, động đất, sự cố hạt nhân Chernobyl… toàn nhân loại lâm vào “tai nạn sinh thái”, đứng trước tình trạng báo động của ô nhiễm khí hậu, thủng tầng ozon, cạn kiệt tài nguyên. Lúc này con người bắt đầu ý thức sâu hơn về trách nhiệm của chính mình để bảo vệ hành tinh Xanh. Đây cũng là thời điểm manh nha lí thuyết phê bình sinh thái.” [33, tr73] Xét về ngọn nguồn, nguy cơ sinh thái chỉ là cái được biểu hiện ra bên ngoài mà tất cả nhân loại đều đã và đang được chứng kiến, còn nguyên nhân 15 download by : skknchat@gmail.com sâu xa dẫn đến phê bình sinh thái phải ra đời có lẽ chính là xuất phát từ chủ nghĩa nhân loại trung tâm luận. Các nhà nghiên cứu lớn đều khẳng định, phê bình sinh thái ra đời chính là để “xét lại quan điểm con người là trung tâm từ thời Khai sáng.
Như chúng ta đều biết, trên tổng thể, tư tưởng văn hóa chủ lưu của phương Tây là “chủ nghĩa nhân loại trung tâm và tư tưởng chinh phục, khống chế, cải tạo tự nhiên”. Tư tưởng này được thể hiện từ thời cổ đại cho đến thời kì Phục Hưng và Khai Sáng. Theo Trần Nho Thìn: “Khái niệm anthropocentrism - nhân loại trung tâm luận - chỉ một quan điểm cho rằng loài người (anthropos trong tiếng Hy Lạp) chiếm vị trí trung tâm, có tầm quan trọng bậc nhất mà tất cả mọi vật xung quanh đều châu tuần về nó”. Mục từ anthropocentrism được giải thích: “Khái niệm diễn đạt quan niệm, công khai hay ngầm ẩn, đặt con người vào vị trí trung tâm của thế giới và nhìn nhận tất cả mọi vật khác trong thế giới này như là vật phụ thuộc hay phục vụ cho con người”[31,tr152] Quan niệm nhân loại trung tâm luận đã ảnh hưởng sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực đời sống.
Trong văn học: “Con người theo nhân loại trung tâm luận với sự thống trị của nó đã áp đặt cho các cảnh trí thiên nhiên các phẩm chất, hành vi, cảm xúc của mình. Thực tế văn học dẫn đến sự ra đời phương pháp phân tích thơ châu Âu theo đó đối chiếu sự song hành con người và thiên nhiên.