Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO Ở BA VÌ, HÀ NỘI 1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội địa bàn cư trú 1. Đặc điểm tự nhiên liên quan đến bệnh tật và phòng chống bệnh tật Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội. Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì của tỉnh Phú Thọ, ranh giới là con sông Hồng.
Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn và Kỳ Sơn của tỉnh Hoà Bình. Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới là con sông Đà. Phía Đông Bắc giáp sông Hồng, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Phúc. Phía Đông Nam giáp thị xã Sơn Tây và một phần nhỏ của huyện Thạch Thất.
Huyện bao gồm thị trấn Tây Đằng và 30 xã. Xã Ba Vì là một xã miền núi thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Phía đông giáp xã Vân Hòa và Yên Bài; phía Bắc giáp xã Tản Lĩnh, Ba Trại; phía Tây giáp xã Minh Quang, Khánh Thượng của huyện Ba Vì, phía nam giáp xã Chu Minh và Hòa Bình. Tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là 2538.1ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 21ha.
Như vậy về mặt diện tích tự nhiên thì phần lớn vườn quốc gia Ba Vì nằm trong lãnh thổ của xã Ba Vì. Trước đây người Dao cư trú trên đỉnh núi Ba Vì. Sau cuộc vận động hạ sơn của Đảng và Nhà nước vào năm 1968, người Dao đã chuyển xuống cư trú tại chân núi Ba Vì. Đặc điểm địa hình của xã Ba Vì có thể chia làm ba vùng chính: vùng chân núi Ba Vì, đó là vườn quốc gia Ba Vì, vùng thứ 2 là vùng đồi có nhiều đồi bát úp bị bào mòn mạnh, có độ cao trên 200m so với mực nước biển.
Thứ 3 là vùng đồng bằng và thung lũng. Với đặc điểm phân bố về địa hình như vậy nên khí hậu Ba Vì cũng thay đổi theo vùng. Khí hậu của vùng núi Ba Vì tương đối mát mẻ. Nhiệt độ bình 14 quân năm trong khu vực là 23,40C.
Lượng mưa trung bình năm tương đối lớn 2.500mm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô.
Ở độ cao 800m trở lên thường xuất hiện sương mù. Bởi vậy vành đai này mang tính chất á nhiệt đới. Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan đến thành phần loài thực vật ở Ba Vì. Với đặc điểm này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nguồn tài nguyên rừng đặc biệt là nguồn dược liệu quí hiếm.
Chính vì vậy mà trong truyền thống, khi cuộc sống còn khó khăn, mạng lưới y tế công chưa phát triển, người Dao đã biết khai thác nguồn dược liệu từ núi Ba Vì với những bài thuốc gia truyền phục vụ cho việc CSSK nói chung và CSSKSP nói riêng. Do đặc điểm cư trú tại khu vực rừng núi Ba Vì nên người Dao nơi đây được thừa hưởng nguồn tài nguyên rừng hết sức phong phú. Tổng diện tích tự nhiên của Vườn Quốc gia Ba Vì tại thời điểm điều tra là 10.782,7 ha, trong đó diện tích đất có rừng của Vườn hiện nay là 8.192,5 ha; chiếm 75,98% tổng diện tích tự nhiên toàn Vườn, rừng tự nhiên 4. Diện tích đất có rừng phân bố nhiều nhất tại xã Ba Vì với 1.
Rừng ở Ba Vì rất đa dạng đã mang những giá trị to lớn cho người Dao nhất là thời kỳ đồng bào còn sống trên núi Ba Vì. Nguồn lợi từ rừng có giá trị nhất phải kể đến thực vật cây thuốc. Theo số liệu thống kê của vườn quốc gia Ba Vì, khu vực rừng Ba Vì có tới 503 loài thuộc 118 họ, 321 chi chữa 33 loại bệnh và chứng bệnh khác nhau trong đó có nhiều loài thuốc quý như: Hoa tiên, Huyết đằng, Bát giác liên, Râu hùm, Hoàng đằng,. Trong những loài thuốc quí trên người Dao đã biết đến khoảng hơn 300 loại thuốc để chữa bệnh.
Những nhóm bệnh đã được người Dao chữa trị như bệnh về phong tê thấp, đau khớp, đau cột sống, đau lưng, thuốc chữa gãy tay chân, bong gân, thuốc xoa bóp, thuốc đau dạ dày, các bệnh về tiêu hóa, đường ruột, bệnh gan, thận , bệnh tim, huyết áp, 15 rắn cắn,. và nổi bật nhất phải kể đến thuốc dùng cho phụ nữ thời kỳ mang thai và sinh nở. Có thể thấy với nguồn dược liệu phong phú đã được người Dao Ba Vì áp dụng rất hiệu quả trong việc chữa bệnh. Một loại dược liệu có thể kết hợp với những loại dược liệu khác để điều trị nhiều chứng bệnh.
Trong quá trình đi tìm hái thuốc và chữa bệnh người Dao cũng khám phá thêm được các loại cây thuốc và tác dụng mới của chúng. Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi Ba Vì và núi Viên Nam. Các suối lớn đều là phụ lưu của sông Hồng và sông Đà. Các suối chính trong khu vực gồm: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn, Suối Ổi, Suối Xoan,.
Các suối này thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng đệm. Bên cạnh còn có các hồ chứa nước nhân tạo như hồ suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Hóoc Cua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân. Với nguồn nước như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Dao ở Ba Vì trong sản xuất nông nghiệp và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Hiện nay nhiều gia đình người Dao Ba Vì vẫn sử dụng nước suối trong sinh hoạt.
Đặc điểm kinh tế, xã hội liên quan đến bệnh tật và chăm sóc sức khỏe * Dân cư, dân số Theo số liệu thống kê của Ban dân số xã Ba Vì đến năm 2011 toàn xã Ba Vì có 472 hộ với 2043 nhân khẩu trong đó có 1093 nữ chiếm 53,4% dân số và 950 nam chiếm 46,6% dân số toàn xã. Xã Ba Vì có 98% dân số là người Dao, 2% còn lại là người Kinh và người Mường. Người Dao ở Ba Vì thuộc nhóm Dao Quần Chẹt, cư trú trong 3 thôn: Yên Sơn, Hợp Sơn và Hợp Nhất. 16 Trong đó Yên Sơn có 224 hộ (3 hộ người Kinh còn lại là người Dao).
Thôn Hợp Sơn có 137 hộ, thôn Hợp Nhất có 121 hộ. Đến nay xã Ba Vì đã đạt chuẩn phổ cập cấp 2 tức là 100% dân số đã biết đọc, biết viết. Tuy nhiên trên thực tế tại địa bàn xã hiện nay vẫn còn khoảng 5 – 6% người già tái mù chữ. Theo báo cáo tổng kết 5 năm (2005 – 2010) của xã Ba Vì số lượng trẻ em đến trường ngày một cao.
Năm 2005 số trẻ em của cả 3 cấp học là 280, đến năm 2009 đã tăng lên 411 học sinh. Trong 5 năm (từ 2005 – 2009) toàn xã có 14 học sinh đã đỗ vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Năm 2010 xã có một em đỗ cao đẳng và một em đỗ dự bị đại học. Điều này thể hiện vấn đề giáo dục của người Dao ở Ba Vì đang ngày càng được quan tâm.
Tuy nhiên nhìn chung trình độ học vấn của người Dao Ba Vì còn thấp. Điều này cũng gây khó khăn cho việc tiếp nhận những tri thức mới và kế thừa TTDG trong CSSK nói chung và CSSK sản phụ nói riêng. * Đặc điểm đời sống kinh tế và mưu sinh Trước đây (cho đến năm 1968) khi người Dao còn sinh sống trên núi Ba Vì, do đất rộng, người thưa nên đồng bào thường du canh, du cư, hình thức canh tác nương rẫy là phổ biến. Nương thường được làm ở sườn đồi, núi đất bằng hay nơi có độ dốc vừa phải và chỉ canh tác một vụ.
Các loại cây trồng chính trên nương bao gồm lúa (lúa nếp và lúa tẻ), ngô, khoai, sắn. Cây thực phẩm gồm có các loại: đậu đũa, đậu xanh, đậu đen, đậu tương, lạc, vừng, bí đỏ, bí xanh. Năm 1968 do thực hiện chính sách định canh, định cư của Đảng và Nhà nước, người Dao Ba Vì đã xuống cư trú dưới chân núi. Tại đây người Dao đã được tỉnh, huyện điều chỉnh lại diện tích lúa nước của xã Quang Minh và Ba Trại nhưng số lượng hạn chế.
Toàn xã hiện nay có 18ha ruộng nước. 17 Ngày nay do chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên trong vườn xung quanh nhà đồng bào thường trồng cây ăn quả như vải, na, xoài, nhãn, mít, bưởi, hồng, dong riềng, đót. Tại thôn Yên Sơn người dân còn trồng bương để thu hái măng măng và cây keo. Hầu hết trong vườn nhà người Dao Ba Vì thường có cây dược liệu phục vụ cho nhu cầu của gia đình, có nhiều gia đình trồng mở rộng phục vụ việc hành nghề YHCT.
Trước đây rừng Ba Vì quản lý còn lỏng lẻo, người dân thường vào rừng khai thác lâm sản và phát nương làm rẫy. Từ khi vườn quốc gia Ba Vì được thành lập (năm 1991), người dân không được tham gia sản xuất và khai thác lâm sản. Do vậy canh tác nương rẫy và lên núi hái thuốc của người Dao bị hạn chế. Về chăn nuôi chủ yếu có trâu, bò, lợn, gà, dê.
Trâu được thả trên núi Ba Vì, đến mùa làm ruộng nước hoặc cần đến sức kéo đồng bào mới dắt về nhà. Nhưng hiện nay việc chăn thả tự do đã không còn hiệu quả cao nên một số gia đình đưa trâu xuống để trông nom, chăn dắt. Ngoài ra người Dao Ba Vì còn thu nhập từ nghề làm thuốc nam gia truyền. Hầu hết các hộ gia đình người Dao ở Ba Vì đều biết làm thuốc nhưng có khoảng 67% số hộ làm thuốc nam phục vụ buôn bán và coi đó là nguồn thu nhập chính của cả gia đình.
Nghề thuốc của người Dao chủ yếu do phụ nữ đảm nhiệm bởi đây là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, thích hợp với phụ nữ hơn nam giới. Do vậy việc áp dụng những tri thức thuốc nam vào CSSKSP càng trở nên phổ biến đối với người Dao Ba Vì. * Cơ sở hạ tầng Xã Ba Vì hiện tại vẫn là một xã miền núi nghèo trong huyện, từ khi được sát nhập về Hà Nội (tháng 08 năm 2008) Ba Vì đã được đầu tư nâng cấp nhiều hơn về cơ sở hạ tầng nhưng về cơ bản vẫn còn rất khó khăn. Năm 1993, Ba Vì có điện nhưng chưa có hệ thống đường điện chính thức.
Một số hộ dân 18 đã mua điện của xã Ba Trại để sử dụng. Đến năm 2005 mạng lưới điện của xã Ba Vì được hoàn thiện. Tại 3 thôn đã có 3 trạm biến thế riêng biệt.