Chương I: Tổng quan nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý luận về Công ty chứng khoán và hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán Chương III: Thực trạng hoạt động tự doanh chứng khoán của Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt giai đoạn 2015-2019 Chương IV: Định hướng và một số giải pháp cho hoạt động tự doanh của Công ty Cổ phần chứng khoán Bảo Việt 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2.1 Công ty chứng khoán 2.1 Khái niệm công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán. Mọi hoạt động mua bán diễn ra trên TTCK tập trung đều phải thông qua CTCK. Ngoài ra, các CTCK có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các hoạt động chính là bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư chứng khoán. Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày 11.1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán là văn bản pháp luật đầu tiên ở Việt Nam có các quy định về công ty chứng khoán.
Theo Nghị định số 144/2003/NĐCP ngày 28.2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được Uỷ ban chứng khoán cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán. Các công ty chứng khoán cũng là một loại hình công ty nhưng do hoạt động nghiệp vụ của nó đặc biệt khác với các công ty sản xuất hay thương mại nói chung nên về mặt tổ chức của chúng cũng có nhiều sự khác biệt. Các công ty chứng khoán ở các nước hay trong cùng một nước vẫn được tổ chức rất khác nhau tùy thuộc vào tính chất công việc của mỗi công ty hay mức độ phát triển của thị trường. Công ty cổ phần 8 Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các cổ đông.
Đại hội cổ đông có quyền bầu hội đồng quản trị. Hội đồng này sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để điều hành công ty theo các sách lược kinh doanh đã đề ra. Ưu điểm của công ty cổ phần: Đây là loại hình công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ động nghỉ hưu hay qua đời. Rủi ro mà chủ sở hữu công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất đinh.
Nếu công ty thua lỗ và phá sản, cổ đông chỉ bị thiệt hại ở mức vốn đã đầu tư vào công ty. Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo mô hình công ty cổ phần và được niêm yết tại Sở giao dịch uy tìn và tên tuổi của công ty cũng được nâng cao. Do các ưu điểm trên, ngày nay các công ty chứng khoán chủ yếu tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần, thậm chí nhiều nước còn quy định công ty chứng khoán bắt buộc là công ty cổ phần. Công ty trách nhiệm hữu hạn Đây là loại công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giới hạn trong số vốn mà họ đã góp.
Vì thế điều này gây tâm lý nhẹ nhàng hơn đối với người đầu tư. Mặt khác, về phương diện huy động vốn, cũng đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty hợp danh. Đồng thời, vấn đề tuyển đội ngũ quản lý cũng năng động hơn, không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh. Vì những lý do đó, rất nhiều công ty chứng khoán hiện nay hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty hợp danh 9 Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên. Thành viên tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh. Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách nhiệm với các khoản nợ của công ty hợp danh bằng toàn bộ tài sản của mình. Ngược lại, các thành viên không tham gia điều hành công ty được gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm với những khoản nợ của công ty giới hạn trong số vốn góp của họ.
Thông thường khả năng huy động vốn của công ty bị giới hạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp.2 Mô hình tổ chức của các Công ty chứng khoán Về mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán có thể khái quát thành hai mô hình đó là: Mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh Mô hình công ty chứng khoán đa năng: Theo mô hình này, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ tài chính. Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư các là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình công ty chứng khoán này được thể hiện dưới hai hình thức: - Công ty chứng khoán đa năng một phần: Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ. - Công ty đa năng toàn phần: Các ngân hàng trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ khác.
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hoá, kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro do hoạt động kinh doanh chung, khả năng chịu 10 đựng các biến biến động của TTCK là cao. Mặt khác, các ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán, khách hàng có thể sử dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của ngân hàng. Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế như không phát triển được thị trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động tín dụng truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác, theo mô hình này, các ngân hàng cũng rất dễ gây lũng đoạn thị trường, và nếu có biến động trên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính do không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh.
Do những hạn chế trên mà trước đây Mỹ và nhiều nước khác đã áp dụng mô hình này, nhưng sau cuộc khủng hoảng năm 1933, đa số các nước đã chuyển sang mô hình chuyên doanh chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đến ngày nay. Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: Hoạt động của các công ty chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này: Hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho TTCK phát triển do tính chuyên môn hoá cao hơn. Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Canada.
Tại Việt Nam, do quy mô các ngân hàng thương mại nói chung là rất nhỏ bé, đặc biệt vốn dài hạn rất thấp, hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu trong lĩnh vực thương mại ngắng hạn, trong khi hoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn. Khả năng khắc phục những yếu điểm này của ngân hàng Việt Nam còn rất lâu dài. Do đó, để bảo vệ an toàn cho các ngân hàng, pháp luật Việt Nam có 11 quy định các ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình thành lập một Công ty chứng khoán chuyên doanh trực thuộc, hạch toán độc lập với ngân hàng 2.3 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán Một công ty chứng khoán cũng tương tự như công ty sản xuất trong đó sản phẩm của CTCK chính là dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Do đó, một số chức năng chính của CTCK bao gồm: - Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành) - Cung cấp cơ chế giá cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp lệnh) - Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán (Hoàn chuyển từ chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại một cách dễ dàng) - Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc vai trò tạo lập thị trường) Vai trò của công ty chứng khoán Vai trò của CTCK được thể hiện qua các hoạt động của CTCK.
Thông qua các hoạt động này, CTCK đã thực sự tạo ra ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của TTCK nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. CTCK đã trở thành tác nhân quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển của TTCK. Đối với các tổ chức phát hành 12 Trên lý thuyết khi doanh nghiệp cần huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán thì họ có thể tự chào bán chứng khoán của mình đến các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, các tổ chức phát hành không thể làm tốt điều này do họ không có một bộ máy chuyên nghiệp trong lĩnh vực này để thực hiện.
Do đó, họ cần một tổ chức chuyên nghiệp đứng ra để mua bán chứng khoán cho họ. Mặt khác, một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK đó là nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này, các nhà phát hành và nhà đầu tư không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán. Vì vậy, các CTCK với cơ cấu tổ chức phù hợp, trình độ chuyên môn, thành thạo nghiệp vụ sẽ thực hiện vai trò trung gian cho nhà đầu tư và các chủ thể phát hành.
Thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các tổ chức phát hành. Đối với các nhà đầu tư Trên TTCK, giá cả chứng khoán thường xuyên biến động cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian để tìm hiểu thông tin trước khi đưa ra các quyết định đầu tư. CTCK lại có những đặc thù riêng.