mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm 15 biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả”.113] Như vậy, các quan niệm trên tương đối thống nhất với đề xuất trong từ điển Tiếng Việt về cách hiểu “chương trình”. Quan niệm của PGS.TS Dương Xuân Sơn là sự cụ thể hóa cách hiểu thứ hai về thuật ngữ “chương trình truyền hình” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn. Từ các quan điểm, có thể hiểu chương trình là toàn bộ những nội dung dự kiến hành động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định. Chương trình là một loạt các hoạt động được thực hiện với sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể cho các nhóm khách hàng, nhóm đối tượng đã được định sẵn.
Tác giả Trần Bảo Khánh trong cuốn “Sản xuất các chương trình truyền hình” viết “Chương trình truyền hình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [20.30] và “Chương trình tạo thành chu kỳ khép kín những mắt xích trong chuỗi giao tiếp” [20, tr. Điều này có thể được lý giải là bởi CTTH được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thể. Cũng theo tác giả Trần Bảo Khánh, CTTH đề cập đến các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như vẫn diễn ra, mà nó thường truyền tải các thông tin từ ngày này sang ngày khác, nhằm phục vụ một công chúng xác định [20, tr. Như vậy, chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và các cán bộ kỹ thuật dịch vụ.
Đồng thời đó cũng là quá trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội. Những thông tin mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận. Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì vậy phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thể tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu. Mở rộng ra, sự lựa 16 chọn đó bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp thể hiện, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người.
Và chính sự lựa chọn đó sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các đài truyền hình. Chương trình truyền hình nhân đạo Chương trình truyền hình nhân đạo là chương trình truyền hình có lồng ghép các hoạt động từ thiện nhân đạo và là một hình thức hoạt động khá đặc thù của cơ quan báo chí. Bên cạnh mục đích nhiệm vụ chính là sản xuất nội dung theo định hướng thông tin tuyên truyền của cơ quan báo chí, việc lồng ghép triển khai những hoạt động nhân đạo hướng tới trợ giúp con người giải quyết vấn đề, giúp những người trong hoàn cảnh khó khăn có cơ hội vươn lên và hoà nhập cộng đồng là một biểu hiện rất riêng biệt. Để làm rõ tính chất của dạng chương trình này, cần dựa vào những nội dung cơ bản là: (1) Động cơ giúp đỡ, (2) Phương pháp giúp đỡ, (3) Các mối quan hệ xã hội, (4) Yêu cầu chuyên môn, (5) Kết quả của sự giúp đỡ.1: So sánh giữa hoạt động từ thiện chung với các chƣơng trình truyền hình có lồng ghép hoạt động từ thiện, nhân đạo Các chƣơng trình truyền hình có Khía cạnh Hoạt động từ thiện nói chung lồng ghép hoạt động từ thiện nhân đạo - Các chương trình có lồng ghép hoạt động từ thiện, nhân đạo thể hiện sự giúp đỡ mang động cơ nghề Hoạt động từ thiện xuất phát từ nghiệp, là trách nhiệm của cơ quan tình yêu đồng loại giữa con người báo chí.
và con người, song đôi khi sự giúp - Cơ quan báo chí truyền hình coi đỡ bị chi phối bởi động cơ cá lợi ích của công chúng khán giả 1. Ví dụ, có thể một cá nhân chính là lợi ích của đối tượng ưu giúp đỡ muốn làm việc thiện hay tạo ra uy tiên hàng đầu. Bên cạnh hoạt động tín cá nhân qua hoạt động từ thiện; sản xuất nội dung phát sóng chính hoặc có người làm từ thiện trên cơ thức, các hoạt động nhân đạo từ sở của lòng nhân ái, sự cưu mang thiện tại cồng đồng nhằm tạo ra đùm bọc. những thay đổi tích cực cuộc sống của chính đối tượng công chúng khán giả.
17 Các chƣơng trình truyền hình có Khía cạnh Hoạt động từ thiện nói chung lồng ghép hoạt động từ thiện nhân đạo - Các chương trình truyền có lồng ghép hoạt động từ thiện, nhân đạo đòi hỏi những mô hình hoạt động riêng, không đơn thuần là một chương trình nội dung chuyên đề - Trong hoạt động từ thiện, thông thường. phương pháp giúp đỡ dựa trên nền - Phương pháp tổ chức triển khai tảng “Cho” và “Nhận”, nên người chương trình có tính khoa học, tuân được giúp đỡ thường tỏ ra THỤ thủ nguyên tắc “kết nối”; là nhịp ĐỘNG đón nhận sự trợ giúp đó. cầu liên kết giữa các lực lượng xã - Phương pháp “cho – nhận” sẽ hội với đối tượng cần giúp đỡ. hiệu quả đề giải quyết các vấn đề Trong quá trình này, chương trình tức thời, hoặc cần sự trợ giúp sẽ triển khai nhiều nội dung, hình nhanh chóng với khối lượng lớn.
thức hoạt động phong phú, mô hình Ví dụ: các hoạt động cứu trợ cho linh hoạt (Ví dụ: gây quỹ, cấp học 2. Phương hàng trăm nghìn người bị ảnh bổng, vận động tài trợ…) nhằm pháp làm hưởng trong các thảm họa tự nhiên huy động sức mạnh của các cấp, việc (động đất, sóng thần, lũ lụt, …) ngành, các tổ chức và toàn xã hội - Hình thức trợ giúp trong hoạt tham gia giúp đỡ những người động từ thiện chủ yếu thông qua nghèo, khó khăn hoạn nạn ổn định phân phối, cấp phát, đưa những cuộc sống, vươn lên hòa nhập cộng vật chất cần thiết tới những người đồng. Trong hoạt động này - Các chương trình truyền hình có người làm hoạt động từ thiện lồng ghép hoạt động nhân đạo từ không cần được đào tạo và trang thiện nhằm tạo điều kiện cho người bị các kiến thức và kỹ năng nghề được giúp đỡ CHỦ ĐỘNG giải nghiệp công tác xã hội. Vì vậy, trong hoạt động này phóng viên/biên tập viên cần được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp công tác xã hội.
Đối với hoạt động từ thiện mối - Trong các chương trình có lồng quan hệ giữa người làm từ thiện và ghép hoạt động từ thiện nhân đạo, đối tượng được trợ giúp là mối mối quan hệ trợ giúp là mối quan 3. Các mối quan hệ Cho và Nhận. Do vậy, đôi hệ công việc, không đơn thuần là quan hệ khi nó khiến cho đối tượng được “cho” và “nhận”. Mối quan hệ này giúp đỡ trợ giúp thường cảm nhận mối hình thành trên cơ sở các giá trị đạo quan hệ đó có tính trên - dưới hoặc đức, nguyên tắc nghề nghiệp, vai mối quan hệ ban ơn và nhận trò trách nhiệm của báo chí.
Một phước. bên là trách nhiệm của người cung 18 Các chƣơng trình truyền hình có Khía cạnh Hoạt động từ thiện nói chung lồng ghép hoạt động từ thiện nhân đạo cấp trợ giúp, một bên là đối tượng có vấn đề và cần được trợ giúp. - Mối quan hệ này cần đảm bảo sự tin tưởng đôi bên và tôn trọng lẫn nhau. - Để triển khai hoạt động này, phóng viên truyền hình cần phải được đào tạo (tự đào tạo), trang bị những kiến thức tổng hợp về con - Một sự khác biệt rõ nét nhất đó người và môi trường, về tâm sinh là yêu cầu về chuyên môn của lý, hành vi con người.
và có kỹ người trợ giúp trong hoạt động năng làm việc với từng nhóm đối công tác xã hội và từ thiện. tượng đặc thù như cá nhân, gia - Trong hoạt động từ thiện người đình, nhóm hoặc cộng đồng. trợ giúp không nhất thiết phải Những phương pháp công tác xã 4. Yêu cầu được đào tạo về công tác xã hội.
hội cá nhân, phương pháp công tác chuyên Họ có thể được đào tạo về bất cứ xã hội nhóm, phương pháp phát môn lĩnh vực chuyên môn nào, điều cốt triển cộng đồng là công cụ cốt lõi lõi là họ phải có tấm lòng, sự nhiệt của quá trình thực hiện hoạt động huyết, tính nhân văn và có điều công tác xã hội. Đội ngũ sản xuất kiện nhất định về vật chất, tinh nội dung cần rèn luyện thường thần để có thể trợ giúp những xuyên kỹ năng, phương pháp nghề người đang có khó khăn. Nhân viên xã hội còn cần có kiến thức quản lý trong các cơ sở xã hội, có khả năng nghiên cứu và tham gia vào hoạch định chính sách. - Hoạt động từ thiện chủ yếu - Các chương trình có lồng thép hướng tới giúp đối tượng giải hoạt động từ thiện nhân đạo giúp quyết vấn đề tức thời.
Sự đói đối tượng giải quyết vấn đề không nghèo của một gia đình được cải chỉ tại thời điểm hiện tại mà còn thiện hơn thông qua hoạt động từ được trang bị những kiến thức kỹ 5. Kết quả thiện của một tổ chức hay cá nhân năng để có khả năng giải quyết vấn của sự giúp như tặng quần áo, hỗ trợ lương đề trong tương lai. Do vậy chức đỡ thực phần nào được giải quyết, năng của công tác xã hội không chỉ như vậy gia đình tạm thời vượt là can thiệp hoặc chữa trị mà còn qua khó khăn ở thời điểm đó. hướng tới phòng ngừa và phát - Hoạt động từ thiện quan tâm triển.
đánh giá các kết quả tức thời. Ví - Công tác xã hội quan tâm đến xây dụ, số kg gạo được phân phát cho dựng các chính sách can thiệp trên 19 Các chƣơng trình truyền hình có Khía cạnh Hoạt động từ thiện nói chung lồng ghép hoạt động từ thiện nhân đạo người dân vùng bị lũ lụt, số người toàn cộng đồng. Cộng đồng có thể được nhận các nhu yếu phẩm là một nhóm, một cơ quan, một trong vùng bị lụt, tỷ lệ trẻ em có ngành nghề, một dân tộc, một quốc đục thủy tinh thể đã được phẫu gia hoặc thậm chí toàn thể nhân thuật thành công…. Công tác xã hội nhắm tới sự - Hoạt động từ thiện tập trung vào kết hợp chặt chẽ, sâu sát, có hiệu tính tức thời do đó kết quả thường quả của tất cả các ngành, các tôn ít chú trọng đến tính bền vững.
giáo chứ không chỉ là hoạt động riêng lẻ của một/ vài cá nhân, tổ chức.