CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Thương hiệu và định vị thương hiệu 1.Tổng quan về thương hiệu Theo “quan điểm truyền thống, lấy ví dụ theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thì: “Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh”. Với quan điểm về truyền thống này, thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là dùng để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cạnh tranh cùng loại” (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr. Đến cuối thế kỷ 20, quan điểm tổng hợp về thương hiệu đã có những thay đổi theo hướng mở rộng và phức tạp hơn nhiều.
Ambler và Styles (1996, trích từ Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr.45) định nghĩa: “Thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng. Như vậy, các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu”. “Quan điểm sản phẩm là một thành phần của thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận.
Lý do là khách hàng có hai nhu cầu chính: nhu cầu về chức năng (functional needs) và nhu cầu về tâm lý (psychological needs). Sản phẩm chỉ cung cấp cho khách hàng lợi ích chức năng và thương hiệu mới cung cấp cho khách hàng cả hai” (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr.46), ngoài ra, thương hiệu còn cung cấp lợi ích tự thể hiện. Áp dụng những quan điểm trên vào phân tích cho đối tượng là ngành truyền hình, ta có thể xem như sau: sản phẩm truyền hình chỉ là một thành phần của thương hiệu truyền hình. Thương hiệu truyền hình chính là các kênh truyền hình (ví dụ như THTPCT), và sản phẩm là những chương trình truyền hình (ví dụ như chương trình “Tây đô ngày mới”).
Sản phẩm truyền hình trước hết cung cấp lợi ích chức năng cho khán giả thông qua các cơ quan thị giác và thính giác. Tuy nhiên, sản phẩm truyền hình còn thông qua mắt và tai tác động trực tiếp đến tâm sinh lý, đến hệ thần kinh và cảm xúc của khán giả, cho nên có mang một phần lợi ích tâm lý. Ví dụ như: xem chương trình truyền hình trực tiếp bóng đá World Cup, khán giả không những được chiêm ngưỡng những đường bóng đẹp, chiến thuật hay, được nghe bình 17 luận, phân tích trực tiếp mà còn có cảm giác mong đợi được xem, hứng khởi, hồi hộp, hoặc phấn khích khi có bàn thắng, và lo lắng buồn bã khi đội bóng mình yêu thích thua trận. Bên cạnh sản phẩm truyền hình, thương hiệu truyền hình còn mang đến cho khán giả những lợi ích khác, đó là một phần lợi ích tâm lý - ở tầng cao hơn sản phẩm truyền hình - và lợi ích tự thể hiện.
Có thể nêu một số ví dụ như sau: khi xem truyền hình trực tiếp bóng đá WorldCup, khán giả còn có niềm tự hào mình là người dân ở quốc gia có nền bóng đá phát triển; hoặc cảm nhận thân thương, gần gũi, nhớ nhung của người Việt Nam ở nước ngoài khi có cơ hội xem các kênh truyền hình Việt Nam; ví dụ khi xem các chương trình truyền hình của CNN, ngoài yếu tố tìm kiếm tin tức từ CNN (lợi ích chức năng), thương hiệu CNN còn kèm theo nó là những thuộc tính như “tốc độ, sự phổ biến, tính chính xác và kinh nghiệm” (Tungate, 2004, tr.36); hoặc với BBC, đó là “một thương hiệu truyền cảm, có khả năng vươn xa và tác động đến cuộc sống trên toàn thế giới” (Tungate, 2004, tr.43); ví dụ khi xem kênh truyền hình THTPCT, khán giả không chỉ nhận biết các lợi ích chức năng như thấy nội dung chương trình hấp dẫn thông qua việc có đầu tư chiều sâu (ví dụ chương trình “Đồng cảm và sẻ chia”), mà còn có thể có lợi ích tự thể hiện như cảm giác đồng cảm về mảnh đời bất hạnh, xoa dịu nổi đau và hơn hết là tin thần tương thân tương ái… Thương hiệu kênh truyền hình cũng mang nhiều đặc điểm của dịch vụ như: một là, tính vô hình (intangibility) – khán giả không thể sờ mó, ngửi, sử dụng kênh truyền hình như một công cụ hữu hình để tác động trực tiếp đến một vật chất khác, cũng không thể cân đo đong đếm, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi xem (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr.64); hai là, tính không đồng nhất (heterogeneity) – kênh truyền hình có thể đồng nhất về khía cạnh kỹ thuật, nhưng không thể đồng nhất về mặt nội dung. Một trong những lý do chính, đó là các chương trình thường do những nhân viên, những con người khác nhau thực hiện, nếu có trùng nhân viên thì cũng sẽ thực hiện những đề tài khác nhau, ngoài ra, một phần lớn là do cảm nhận của khán giả, những người có thể bị tác động rất lớn bởi điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài, cho nên đặc điểm không đồng nhất của kênh truyền hình là hoàn toàn cơ bản và rõ ràng; ba là, tính không thể tách ly (inseparability) – nội dung của chương trình truyền hình có thể được chuẩn bị trước, được lưu trữ dưới dạng tập tin, băng từ trước khi phát sóng, nhưng khi đã phát sóng, tức là khi có sự tương tác với khán giả thì chất lượng của nội dung mới được khán giả cảm nhận và đánh giá, tạo ra những tác động đến khán giả trong cùng thời điểm, nếu khán giả không xem vào thời điểm đó, thì nội dung đó cũng sẽ trôi đi theo thời gian. Ngoài ra, khi bàn về thương hiệu ở Việt Nam, cũng cần lưu ý rằng nước ta chưa có một văn bản pháp luật nào về sở hữu công nghiệp sử dụng thuật ngữ 18 “thương hiệu”. Pháp luật về sở hữu công nghiệp của nước ta chỉ có các quy định về nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý của hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng hoá.
Ông Phạm Đình Chướng (2003, trích từ Thanh Loan, 2003) đã phát biểu như sau: “…tạm chia ra làm mấy loại đối tượng được báo chí và một số người gọi là "Thương hiệu" trong thời gian vừa qua như sau: thứ nhất là loại như VINATABA (thuốc lá), Trung Nguyên (cà phê), SAGIANG (bánh phồng tôm), VINAMILK (Sữa), PETRO VIETNAM (dầu khí) …loại thứ hai: Phú Quốc (nước mắm), Tân Cương (chè), Chợ Đào (gạo), Made in Viet Nam ("xe máy, máy tính thương hiệu Việt Nam") …loại thứ ba: PETRO VIETNAM, VNPT (Tên viết tắt của Tổng công ty Dầu khí; Tổng công ty Bưu chính Viễn thông) .Rõ ràng là, cả ba đối tượng nói trên đều đã được định danh trong các văn bản chính thức của nhà nước, cụ thể là "nhãn hiệu" cho loại thứ nhất, "chỉ dẫn địa lý” cho loại thứ hai và "Tên thương mại" (đúng hơn là một phần của Tên thương mại) cho loại thứ ba. Nghĩa là, cái được gọi là "Thương hiệu" không phải là một đối tượng mới nào cả mà chỉ là dùng một cái tên (thuật ngữ) khác để chỉ ba loại đối tượng xác định…”. Như vậy, theo quy định của Pháp luật, thì phải gọi một thương hiệu kênh truyền hình như THTPCT như thế nào? Gọi là nhãn hiệu dịch vụ (vì kênh truyền hình mang nhiều đặc điểm của dịch vụ hơn hàng hóa), tên thương mại (tên doanh nghiệp phân biệt), hay chỉ dẫn địa lý (vì chữ TPCT là viết tắt của Thành phố Cần Thơ)? Theo ý kiến của tác giả, cách gọi THTPCT là tên thương mại và THTPCT cũng chính là nhãn hiệu dịch vụ thì phù hợp với quy định của pháp luật nhất. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này, tác giả vẫn sẽ tạm thời sử dụng thuật ngữ “thương hiệu” THTPCT.
Quy trình xây dựng thương hiệu Do chưa thành lập phòng ban phụ trách về vấn đề thương hiệu cũng như chưa có quy trình cụ thể, nên quy trình xây dựng thương hiệu của THTPCT tạm thời sẽ tuân thủ các quy trình lý thuyết chung, bao gồm năm bước cơ bản như sau: Xác định Định vị Xây Xây Đo cấu trúc thương dựng dựng lường và nền hiệu chiến chiến hiệu móng lược lược chỉnh thương thương truyền hiệu hiệu thông Nguồn: www.1: Quy trình xây dựng thương hiệu Bước đầu tiên đóng vai trò rất quan trọng, đó là xác định cấu trúc nền móng thương hiệu. Các chất liệu cơ bản để xây dựng nền móng là: lĩnh vực hoạt động của công ty, mô hình hoạt động của công ty, định hướng mở rộng thương 19 hiệu, các nhận biết cơ bản của thương hiệu, tầm nhìn – sứ mạng thương hiệu, tính cách thương hiệu. Bước thứ hai là định vị thương hiệu, là công việc chính của đề tài, nhằm xác định vị trí của thương hiệu trong tâm trí của người tiêu dùng. Bước thứ ba nhằm xây dựng chiến lược thương hiệu theo nhiều cách khác nhau, tùy nhu cầu, khả năng và mục đích của công ty.
Ví dụ theo mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động với thương hiệu của công ty, có thể có các chiến lược như chiến lược một thương hiệu, chiến lược đa thương hiệu, chiến lược thương hiệu hỗ trợ, chiến lược thương hiệu gốc… Bước thứ tư nhằm xây dựng một chiến lược truyền thông xuyên suốt và thống nhất, thông đạt một cách tập trung những giá trị đặc trưng khác biệt của thương hiệu đến khách hàng mục tiêu. Và bước cuối cùng là thường xuyên đo lường và kiểm tra hiệu quả của các chiến dịch truyền thông để có sự hiệu chỉnh kịp thời. Định vị thương hiệu (brand positioning) “Định vị là quá trình xây dựng và thông đạt những giá trị đặc trưng của thương hiệu mình vào tâm trí khách hàng mục tiêu” (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2007, tr. Định vị thương hiệu là nội dung chính của đề tài này.
Quy trình định vị thương hiệu và quá trình thực hiện sẽ được mô tả chi tiết ở các phần và chương tiếp theo của đề tài. Ở đây chỉ nêu một số đặc điểm cơ bản nhất, cũng như nguồn gốc hình thành thuật ngữ này. Thông thường, định vị thương hiệu đứng ở vị trí thứ hai trong quá trình xây dựng thương hiệu, có nhiệm vụ xác định vị trí của thương hiệu trong mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là từ góc nhìn của khách hàng.