Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu đang diễn ra với quy mô toàn cầu và kéo theo nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán, giá rét kỷ lục và nước biển dâng. Tại Việt Nam, các hiện tượng khí hậu cực đoan ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng núi cao là nhóm đối tượng chịu tổn thương lớn nhất do tập quán canh tác phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và điều kiện kinh tế còn khó khăn. Xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn là một xã miền núi vùng cao với phần lớn dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số. Trong giai đoạn những năm gần đây, địa phương này thường xuyên chịu tác động của thời tiết bất thường như rét đậm, rét hại, mưa đá và lũ quét, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế nông hộ. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Hà Diệu Hương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Phát triển nông thôn với đề tài: "Hoạt động sinh kế của hộ dân tộc thiểu số xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu".
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống và hoạt động sản xuất của các hộ dân tộc thiểu số tại xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực và xác định các hoạt động sinh kế phù hợp cho người dân địa phương.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế và biến đổi khí hậu.
- Mục tiêu 2: Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Mục tiêu 3: Thống kê diễn biến biến đổi khí hậu tại địa bàn xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
- Mục tiêu 4: Đánh giá thực trạng hoạt động sinh kế của hộ dân tộc thiểu số tại xã Vi Hương trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
- Mục tiêu 5: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho hộ dân tộc thiểu số tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động sinh kế, các hiện tượng biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của các hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn xã Vi Hương.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai tại xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, tập trung khảo sát tại 3 thôn đặc thù: thôn Nà Sang (vị trí thấp nhất, trung tâm xã), thôn Cốc Thốc (vị trí cao nhất, dân cư sống rải rác) và thôn Đon Bây (thôn xa nhất, cách trung tâm xã 7 km).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu sơ cấp trong thời gian thực tập từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018; chuỗi số liệu khí tượng thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 10 năm từ năm 2007 đến năm 2017; số liệu kinh tế - xã hội tổng hợp trong giai đoạn 2015 - 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận sử dụng các khái niệm và khung lý thuyết tiêu chuẩn trong nghiên cứu sinh kế nông thôn và môi trường:
- Khái niệm khí hậu, thời tiết và biến đổi khí hậu: Dẫn chiếu theo định nghĩa của Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) và Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2007).
- Khung lý thuyết sinh kế: Dựa trên định nghĩa của Robert Chambers và Gordon Conway (1992) cùng khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID). Sinh kế được cấu thành từ 5 nguồn vốn (nguồn lực) cơ bản: nguồn nhân lực, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính.
- Khái niệm dân tộc thiểu số: Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tiếp cận và xử lý các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân xã Vi Hương, số liệu thống kê huyện Bạch Thông, tài liệu khí tượng thủy văn, các văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng kỹ thuật quan sát trực tiếp cơ sở hạ tầng, đồng ruộng, nếp sống dân cư; thực hiện phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc gồm hai phần (thông tin nhân khẩu học và nội dung sản xuất, tài sản, tác động của khí hậu).
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: Tổng thể toàn xã có 610 hộ gia đình. Tác giả áp dụng công thức Slovin với mức sai số cho phép $e = 0,1$ (độ tin cậy 90%):
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
Từ công thức trên, quy mô mẫu xác định là $n = 85$ hộ gia đình dân tộc thiểu số, được phân bổ đều tại 3 thôn đại diện:
- Thôn Nà Sang: 29 hộ.
- Thôn Cốc Thốc: 28 hộ.
- Thôn Đon Bây: 28 hộ.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Tổng hợp dữ liệu điều tra qua phần mềm Microsoft Excel, sử dụng phương pháp thống kê mô tả để lập các bảng tần số, tính tỷ lệ phần trăm, tính trung bình và xây dựng biểu đồ so sánh.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng tại vùng miền núi phía Bắc. Nội dung xác định rõ 1 mục tiêu chung, 5 mục tiêu cụ thể, đối tượng khảo sát là hộ dân tộc thiểu số và phạm vi thực hiện tại xã Vi Hương trong năm 2018. Khóa luận khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc vận dụng kiến thức chuyên ngành phát triển nông thôn và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở dữ liệu cho chính quyền địa phương xây dựng giải pháp ứng phó.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các khái niệm thời tiết, khí hậu, nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo gây ra biến đổi khí hậu; phân tích các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đến sức khỏe, tài nguyên nước, môi trường đất, nông - lâm - thủy sản và an ninh lương thực. Về mặt lý luận sinh kế, chương tổng quan phân tích 5 nguồn lực sinh kế theo khung DFID và các đặc trưng văn hóa, kinh tế của cộng đồng dân tộc thiểu số theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP. Đồng thời, tác giả tổng hợp tình hình thực tiễn tác động của biến đổi khí hậu trên phạm vi thế giới và tại Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh sự suy giảm nguồn tài nguyên nước và nguy cơ rủi ro đối với ngành trồng trọt.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả cụ thể hóa địa bàn thực tập tại xã Vi Hương từ ngày 15/01/2018 đến 30/05/2018. Chương này mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên 85 hộ dân tộc thiểu số tại 3 thôn đại diện cho 3 điều kiện địa lý khác nhau theo công thức Slovin ($N=610$, $e=10%$). Nội dung nghiên cứu tập trung vào 4 nhóm vấn đề: đặc điểm tự nhiên - xã hội của xã, diễn biến khí hậu giai đoạn 2007 - 2017, thực trạng hoạt động sinh kế hộ gia đình và các giải pháp thích ứng. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập số liệu thứ cấp, quan sát hiện trường, điều tra bảng hỏi và xử lý thống kê mô tả trên Excel.
Phần 4: Kết quả thực tập
Đây là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh kết quả phân tích số liệu thứ cấp của địa phương và số liệu khảo sát 85 hộ dân tộc thiểu số:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Vi Hương: Tổng diện tích tự nhiên năm 2017 là 2.087,8 ha; trong đó nhóm đất nông nghiệp chiếm 1.801,62 ha (86,29%), đất phi nông nghiệp chiếm 77,60 ha (3,72%), đất chưa sử dụng chiếm 208,58 ha (9,99%). Toàn xã có 610 hộ với 2.564 nhân khẩu thường trú thuộc 6 dân tộc anh em (Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, Mông). Lao động toàn xã có 1.542 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 64,72% (998 người), lao động qua đào tạo chỉ đạt 8,3% (186 người). Sản lượng cây lương thực biến động theo hướng giảm: sản lượng lúa năm 2015 đạt 1.715 tấn (trên 307 ha) giảm xuống 1.430,6 tấn (trên 335 ha) năm 2017; sản lượng ngô năm 2015 đạt 342 tấn giảm xuống 253,6 tấn năm 2017. Về chăn nuôi, đàn lợn giảm từ 5.520 con (năm 2015) xuống 4.200 con (năm 2017); gia cầm duy trì số lượng lớn nhất, đạt 25.000 con năm 2017 (chiếm 83,94% tổng đàn vật nuôi).
- Thống kê diễn biến biến đổi khí hậu (2007 - 2017): Trong 10 năm, nhiệt độ trung bình tại xã Vi Hương tăng 0,5°C; mùa đông nhiệt độ xuống thấp nhất 4°C, mùa hè cao nhất đạt 39,4°C. Độ ẩm trung bình tăng 3,3%. Lượng mưa trung bình đạt 1.289,2 mm/năm nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các tháng 5, 6, 7, 8; các năm 2010 - 2012 ghi nhận lượng mưa thấp dưới 1.100 mm gây hạn hán. Thiên tai giai đoạn 2015 - 2017 đã làm 1 người chết (năm 2016 do lũ cuốn), 18 ngôi nhà bị tốc mái và ngập lụt, 6 km đường giao thông bị hư hỏng, 2 cầu cống bị cuốn trôi, 52 con gia súc gia cầm bị chết trôi và 6,35 ha lúa hoa màu mất trắng hoặc hư hại.
- Phân tích nguồn lực của 85 hộ khảo sát: Về nhân khẩu, 75 chủ hộ là nam giới (88,24%), 10 chủ hộ là nữ giới (11,76%). Về thành phần dân tộc, hộ người Tày chiếm 55,29% (47 hộ), người Dao chiếm 37,65% (32 hộ), người Nùng chiếm 7,06% (6 hộ). Cơ cấu phân loại gồm 49 hộ thuần nông nghiệp (57,65%), 31 hộ kiêm ngành nghề (36,47%) và 5 hộ phi nông nghiệp (5,88%). Về học vấn chủ hộ, trình độ THPT chiếm 61,18% (52 người), THCS chiếm 21,18% (18 người), tiểu học chiếm 12,94% (11 người) và cao đẳng - đại học chiếm 5,88% (5 người).
- Nguồn lực đất đai và tài sản: Nhóm hộ thuần nông nghiệp quản lý 242.365 m² đất (trong đó đất ruộng chiếm 56,47%, đất màu chiếm 26,04%); nhóm hộ kiêm quản lý 156.535 m² đất (đất ruộng chiếm 54,81%, đất màu chiếm 29,84%); nhóm hộ phi nông nghiệp quản lý 9.600 m² đất (chủ yếu là đất thổ cư 36,25% và đất ruộng 41,88% nhưng cho thuê hoặc sản xuất tự túc). Về nhà ở, 63,53% số hộ có nhà xây và 36,47% ở nhà gỗ truyền thống. Về công cụ sản xuất, 100% hộ nông nghiệp và hộ kiêm đã trang bị máy cày bừa và máy tuốt lúa.
- Cơ cấu hoạt động sinh kế và thu nhập: Trồng lúa là hoạt động hiện diện ở 100% hộ nông nghiệp và hộ kiêm; trồng ngô chiếm 73,47% ở hộ nông nghiệp và 54,84% ở hộ kiêm; chăn nuôi lợn chiếm 68,09% ở hộ nông nghiệp và 74,19% ở hộ kiêm. Tuy nhiên, cơ cấu thu nhập cho thấy sự chuyển dịch mạnh: ở nhóm hộ nông nghiệp, hoạt động trồng trọt và chăn nuôi chỉ đóng góp 18,77% tổng thu nhập (lúa chiếm 5,86%, ngô chiếm 3,85%, nuôi lợn chiếm 9,06%), trong khi các nguồn thu phi nông nghiệp chiếm tới 81,23% (làm công nhân chiếm 57,05%, làm thuê chiếm 24,17%). Thu nhập bình quân đầu người của nhóm hộ thuần nông đạt 31,92 triệu đồng/năm, thấp hơn đáng kể so với nhóm hộ phi nông nghiệp (75,76 triệu đồng/năm) và hộ kiêm (74,71 triệu đồng/năm).
- Tác động của khí hậu và khả năng thích ứng: 100% số hộ cập nhật thông tin thời tiết qua kênh tivi/đài truyền hình, 44,71% tiếp nhận qua hàng xóm/bạn bè và 25,88% qua internet. Các hiện tượng mưa lớn, lũ quét, xói lở đất và rét đậm rét hại ảnh hưởng trực tiếp ở nhiều mức độ khác nhau đến chu kỳ mùa màng và an toàn tài sản.
- Đề xuất giải pháp: Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp thích ứng bao gồm: giải pháp về đất đai (chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chống xói mòn); giải pháp về nguồn nhân lực; giải pháp về việc làm; giải pháp về vốn; giải pháp về giáo dục, sức khỏe và truyền thông.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tóm tắt toàn bộ kết quả nghiên cứu, đồng thời đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với chính quyền và đoàn thể địa phương (tăng cường lớp tập huấn, hỗ trợ vốn, xây dựng công trình phòng chống thiên tai) và đối với người dân (chủ động gia cố chuồng trại, theo dõi dự báo thời tiết, áp dụng giống cây trồng chịu hạn/rét).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các số liệu thực chứng phản ánh chi tiết hiện trạng kinh tế và tác động của biến đổi khí hậu tại xã Vi Hương:
| Nhóm chỉ tiêu |
Hộ nông nghiệp ($n=49$) |
Hộ phi nông nghiệp ($n=5$) |
Hộ kiêm ($n=31$) |
| Tổng diện tích đất quản lý (m²) |
242.365 |
9.600 |
156.535 |
| - Tỷ lệ đất ruộng (%) |
56,47 |
41,88 |
54,81 |
| - Tỷ lệ đất hoa màu (%) |
26,04 |
15,63 |
29,84 |
| Tỷ lệ hộ sở hữu máy cày, tuốt lúa (%) |
100,00 |
0,00 |
100,00 |
| Thu nhập bình quân hộ (triệu đồng/năm) |
126,43 |
300,00 |
295,86 |
| Thu nhập bình quân đầu người (triệu đồng/năm) |
31,92 |
75,76 |
74,71 |
| Tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp (%) |
18,77 |
0,00 |
6,38 |
| Tỷ trọng thu nhập từ phi nông nghiệp (%) |
81,23 |
100,00 |
93,62 |
Các giải pháp và kiến nghị chính của tác giả:
- Giải pháp quy hoạch đất đai và chuyển dịch mùa vụ: Bố trí lại diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại cây màu có khả năng chịu khô hạn, xây dựng kè chống xói lở đất tại các vùng ruộng dốc và bờ suối.
- Nâng cao chất lượng lao động và tạo việc làm: Mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn (chỉ tiêu lao động qua đào tạo năm 2017 mới đạt 8,3%), thúc đẩy lao động làm việc tại các nhà máy, khu công nghiệp trong thời gian nông nhàn để đa dạng hóa nguồn thu.
- Hỗ trợ tín dụng và vốn đầu tư: Tạo điều kiện cho các hộ nghèo và cận nghèo (chiếm 30,59% số hộ điều tra) tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để cải tiến máy móc, mở rộng quy mô chăn nuôi có kiểm soát dịch bệnh.
- Tăng cường truyền thông về biến đổi khí hậu: Đa dạng hóa hình thức cung cấp thông tin thời tiết qua hệ thống loa truyền thanh xã và các lớp tập huấn kỹ thuật thích ứng biến đổi khí hậu, tránh việc người dân tiếp cận thông tin thụ động.
Đóng góp của khóa luận:
Tác giả đã phác họa bức tranh thực tế về sự nghịch lý trong sinh kế nông hộ vùng cao: mặc dù đất đai và tư liệu sản xuất tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, nhưng thu nhập thực tế của người dân lại đang bị chi phối bởi các hoạt động phi nông nghiệp (chiếm 81,23% ở hộ thuần nông). Công trình cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực địa cấp thôn bản, giúp chính quyền xã Vi Hương có căn cứ thực tế để điều chỉnh các chỉ tiêu phát triển kinh tế và kế hoạch phòng chống thiên tai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Quy mô khảo sát bị giới hạn ở 85 hộ dân tộc thiểu số tại 3 thôn của một xã vùng cao (xã Vi Hương), chưa mở rộng so sánh với các xã khác trên địa bàn huyện Bạch Thông.
- Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (từ 15/01/2018 đến 30/05/2018), do đó việc đánh giá chu kỳ mùa vụ trong năm chủ yếu dựa vào số liệu hồi tưởng qua bảng hỏi và báo cáo thống kê thứ cấp.
- Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu chủ yếu dừng lại ở các chỉ tiêu tần suất và cảm nhận định tính của người dân qua thang đo mức độ, chưa lượng hóa được cụ thể hàm lượng rủi ro kinh tế sinh kế.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra sang các xã lân cận có điều kiện địa hình tương đồng để so sánh chiến lược thích ứng sinh kế giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số khác nhau.
- Áp dụng các chỉ số định lượng chuyên sâu như Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI - Livelihood Vulnerability Index) để phân tích chi tiết mức độ tổn thương của từng nhóm hộ trước rủi ro thiên tai.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên môi trường và Xã hội học nông thôn. Tài liệu có giá trị đối với các nghiên cứu về đánh giá sinh kế hộ gia đình, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng dân tộc thiểu số và tác động của thời tiết cực đoan đến sản xuất nông nghiệp vùng núi phía Bắc.
Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong khóa luận là hệ thống bảng số liệu điều tra thực địa (Bảng 4.8, 4.11 và 4.12) về phân bổ nguồn lực đất đai, cơ cấu hoạt động và chi tiết các nguồn thu nhập của 3 nhóm hộ (nông nghiệp, phi nông nghiệp, hộ kiêm). Đây là minh chứng thực nghiệm điển hình cho thấy vai trò sống còn của nguồn thu phi nông nghiệp đối với các hộ gia đình miền núi khi canh tác nông nghiệp truyền thống gặp rủi ro thời tiết.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả đã lựa chọn những thôn nào tại xã Vi Hương để tiến hành khảo sát và lý do lựa chọn là gì?
Tác giả chọn 3 thôn đại diện gồm: thôn Nà Sang (29 hộ), thôn Cốc Thốc (28 hộ) và thôn Đon Bây (28 hộ). Lý do lựa chọn dựa trên sự khác biệt về vị trí địa lý: thôn Nà Sang nằm ở vị trí thấp nhất và ngay tại trung tâm xã thuận lợi buôn bán; thôn Cốc Thốc nằm ở vị trí địa lý cao nhất xã với dân cư sống thành từng cụm nhỏ rải rác; thôn Đon Bây là thôn xa nhất, cách trung tâm xã 7 km. Cả 3 thôn đều có tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số đạt gần 100%.
2. Diễn biến nhiệt độ và độ ẩm trung bình tại xã Vi Hương trong giai đoạn 2007 - 2017 thay đổi như thế nào?
Theo số liệu thống kê giai đoạn 2007 - 2017 được trình bày trong khóa luận, nhiệt độ trung bình tại xã Vi Hương đã tăng 0,5°C qua 10 năm. Mùa đông xuất hiện các đợt rét đậm, rét hại với nhiệt độ giảm mạnh xuống mức 4°C, trong khi mùa hè nhiệt độ cao nhất đạt 39,4°C. Độ ẩm trung bình qua các năm từ 2007 đến 2017 tăng thêm 3,3%.
3. Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ thuần nông nghiệp tại địa bàn khảo sát có đặc điểm gì nổi bật?
Mặc dù hoạt động sinh kế chính là nông nghiệp (100% hộ trồng lúa, 73,47% trồng ngô, 68,09% nuôi lợn), nguồn thu từ nông nghiệp chỉ chiếm 18,77% tổng thu nhập của nhóm hộ này (trong đó trồng lúa chiếm 5,86%, ngô chiếm 3,85%, nuôi lợn chiếm 9,06%). Nguồn thu nhập chính của hộ thuần nông lại đến từ các hoạt động phi nông nghiệp trong thời gian nông nhàn, chiếm tới 81,23% (tiền lương làm công nhân chiếm 57,05% và làm thuê chiếm 24,17%).
4. Thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan đã gây ra những thiệt hại cụ thể nào tại xã Vi Hương trong giai đoạn 2015 - 2017?
Trong giai đoạn 2015 - 2017, thiên tai đã gây thiệt hại nghiêm trọng trên địa bàn xã:
- Năm 2015: Làm 6 nhà dân bị tốc mái, gãy đổ 2 cột điện, hư hỏng 1 km đường giao thông liên thôn và ngập úng 1,8 ha lúa, hoa màu.
- Năm 2016: Gây ra 1 trường hợp tử vong do lũ cuốn khi đi vớt củi; 12 ngôi nhà bị ngập và đất đá xô vào; cuốn trôi 2 cầu cống; làm nứt sụt 5 km đường giao thông; hư hại 3,65 ha lúa và hoa màu; làm chết trôi 52 con gia súc, gia cầm.
- Năm 2017: Mưa lớn gây ngập úng và hư hại 0,9 ha lúa và hoa màu.
5. Phương tiện nghe nhìn và nguồn tiếp cận thông tin thời tiết của các hộ dân tộc thiểu số tại xã Vi Hương gồm những kênh nào?
Về thiết bị sinh hoạt, 100% số hộ điều tra đều có tivi (85 hộ) và trên 95,92% hộ có điện thoại di động. Về nguồn tiếp nhận thông tin thời tiết, 100% số hộ nhận thông tin từ kênh tivi/đài truyền hình (đặc biệt là kênh truyền hình tiếng dân tộc VTV5 và bản tin dự báo thời tiết). Tiếp đó là kênh truyền miệng qua hàng xóm, bạn bè (chiếm 44,71%), qua internet (chiếm 25,88%), qua các thành viên trong gia đình (chiếm 18,82%) và qua sách, báo, tạp chí chỉ chiếm 2,35%.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hà Diệu Hương phản ánh bức tranh thực tế về hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Vi Hương, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn dưới tác động của biến đổi khí hậu giai đoạn 2007 - 2017. Nghiên cứu đã làm rõ sự dịch chuyển tất yếu từ nguồn thu nông nghiệp truyền thống sang các hoạt động phi nông nghiệp nhằm bù đắp rủi ro mùa màng do thiên tai gây ra. Các số liệu điều tra thực địa và hệ thống giải pháp được đề xuất trong công trình là căn cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch phát triển nông thôn và nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng dân tộc thiểu số tại địa phương.