Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, KIỂM TRA CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm chung 1. Khái niệm giám sát Về giám sát, có nhiều định nghĩa khác nhau, tùy theo tính chất, phạm vi của nội dung nghiên cứu. Tuy nhiên theo nghĩa thông thường chúng ta có thể hiểu khái niệm giám sát đó là “sự theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” [5, tr.
Bên cạnh đó theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính định nghĩa giám sát đó là “sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [3, tr. Theo Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 Việt Nam định nghĩa: “Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý” [7, tr. Tuy nhiên khái niệm chung nhất về giám sát chúng ta có thể hiểu đó là “sự theo dõi, quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi 9 đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh” [9, tr. Qua các khái niệm trên chúng ta có thể thấy một số đặc điểm nổi bật của giám sát đó là: (1) Về cách thức tiến hành hoạt động giám sát là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra; (2) Hoạt động giám sát phải gắn với chủ thể có thẩm quyền giám sát và đối tượng chịu sự giám sát.
Việc xác định chủ thể tiến hành giám sát và đối tác bị giám sát là cần thiết nhằm làm rõ hoạt động giám sát vì hoạt động có tính chất gần tương tự là kiểm tra, xem xét theo dõi. Theo đó, giám sát là hoạt động được thực hiện bởi chủ thể nằm bên ngoài tổ chức, hệ thống. Tức là cá nhân, tổ chức, cơ quan này giám sát cá nhân, tổ chức, cơ quan khác trong việc thực hiện nhiệm vụ của nó. Khác với hoạt động theo dõi, kiểm tra trong nội bộ tổ chức, cơ quan thì không được coi là hoạt động giám sát, mặc dù cũng có thể do một cá nhân, cơ quan, tổ chức tiến hành đối với một cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, nhưng mục tiêu hướng tới là việc thực hiện nhiệm vụ của một tổ chức bao trùm lên cả chủ thể và đối tượng giám sát, hoạt động theo dõi, kiểm tra chỉ có thể coi là hoạt động giám sát nếu chủ thể và đối tượng giám sát nằm trong hai hệ thống độc lập (một cách tương đối) với nhau; (3) Mục đích và hậu quả của việc giám sát cần thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ quyền lực - đó là quyền lực nhà nước, trong đó chủ thể giám sát phải có quyền đối với tượng giám sát, đối tượng giám sát phải chịu trách nhiệm trước chủ thể giám sát.
Xét về tính mục đích, thì hoạt động giám sát có những mục đích riêng biệt, mang tính đặc trưng. Qua giám sát để chủ thể giám sát hoặc chính đối tượng bị giám sát biết thông tin về hoạt động của đối tượng bị giám sát có theo đúng quy định đã đề ra hay không, có sai phạm gì không, đã làm tốt hay chưa làm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, những lý do và 10 nguyên nhân của nó. Từ thông tin của hoạt động giám sát này sẽ giúp cho đối tượng bị giám sát thay đổi hành vi phù hợp hoặc chủ thể giám sát, cá nhân hay tổ chức có thẩm quyền buộc đối tượng bị giám sát điều chỉnh hành vi hoặc ban hành quy định phù hợp với thực tiễn. Vậy chúng ta có thể hiểu giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh.
Khái niệm kiểm tra Khi nói khái niệm kiểm tra, chúng ta thường liên hệ, so sánh với 2 hình thức có điểm tương đồng là thanh tra và giám sát. Giữa giám sát, thanh tra, kiểm tra, nếu hiểu theo nghĩa chung nhất thì sự khác biệt là không nhiều, sự phân biệt chỉ được làm rõ khi xem xét chúng dưới góc độ thực hiện quyền lực nhà nước, mục đích, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của nó. Bên cạnh đó khái niệm kiểm tra có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy theo cách tiếp cận của vấn đề, tính chất, phạm vi, mức độ cũng như chuyên ngành. Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng định nghĩa thì “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [4, tr.
Kiểm tra là chức năng của mọi chủ thể quản lý, không phân biệt ở cấp nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói riêng. Tuy nhiên là ở các cấp bậc khác nhau thì quy mô kiểm tra cũng khác nhau và có những yêu cầu khác nhau. Kiểm tra gắn liền với công việc của một tổ chức nhất định, kiểm tra hướng tới việc xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của một chương trình công tác đã vạch ra, khả năng thực hiện trong thực tế. Hình thức kiểm tra thường được dùng trong hoạt động của Chính phủ, các cơ quan hành chính, thiên về hoạt động nội tại trong một cơ quan, tổ 11 chức.
Hoạt động kiểm tra không thể thực hiện giữa bất kỳ chủ thể và đối tượng nào, mà chỉ được thực hiện khi giữa chủ thể và đối tượng kiểm tra có mối quan hệ nhất định, đó là mối quan hệ giữa quyền và trách nhiệm; tùy mối quan hệ mà giữa chủ thể và đối tượng có thể thực hiện bằng các phương thức kiểm tra khác nhau. Nhìn chung, chủ thể thực hiện quyền kiểm tra đối với đối tượng chỉ khi đối tượng chịu trách nhiệm trực tiếp trước chủ thể kiểm tra. Tóm lại có thể hiểu kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan, tổ chức cấp trên với cơ quan, tổ chức cấp dưới nhằm xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi cần thiết, hoặc kiểm tra một vấn đề cụ thể. Khái niệm Hội đồng nhân dân tỉnh, cơ quan hành chính nhà nước 1.
Hội dồng nhân dân tỉnh HĐND là chế định trong bộ máy nhà nước tồn tại ở các nước theo mô hình nhà nước XHCN. Hiện nay tại Trung Quốc và Việt Nam, HĐND đều được thành lập ở 4 cấp chính quyền. Với những tương đồng trong con đường phát triển, do vậy, từ khi nước CHDCND Lào thông qua Hiến pháp 2015, HĐND mới được tổ chức để qua đó tăng cường công tác giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước ở địa phương. Theo quy định tại Điều 76 của Hiến pháp nước CHDCND Lào năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) thì HĐND cấp địa phương được hiểu đó là: HĐND cấp địa phương là cơ quan đại diện toàn quyền và lợi ích của các dân tộc, là cơ quan quyền lực nhà nước địa phương, quyết định vấn đề cơ bản của của địa phương và giám sát, kiểm tra các hoạt động của nhà nước trong địa phương của mình.
HĐND cấp địa phương được thành lập theo cấp hành chính (chính quyền địa phương) của địa phương bao gồm HĐND tỉnh, huyện và bản (làng). Đối với HĐND huyện và bản (làng) có thể thành lập theo quyết định của quốc hội. HĐND tỉnh có nhiệm kỳ bằng nhiệm kỳ của Quốc hội [40, tr. 12 Theo Luật HĐND cấp tỉnh Lào năm 2016, khái niệm HĐND tỉnh được quy định tại Điều 2 đó là: Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan đại diện quyền và lợi ích của các dân tộc Lào, là cơ quan quyền lực nhà nước cấp địa phương, thực hiện vai trò xem xét và phê duyệt văn bản quan trọng, quyết định vấn đề quan trọng cơ bản của địa phương và giám sát, kiểm tra sự tôn trọng trong việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp địa phương [42, tr.
Qua khái niệm trên chúng ta có thể thấy được HĐND có vị trí, vai trò, chức năng, quyền và nhiệm vụ quan trọng. Điều này được thể hiện qua những điểm chính sau đây: Thứ nhất, về vị trí của HĐND HĐND tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương cũng như là cơ quan quan trọng nhất trong bộ máy nhà nước của nước CHDCND Lào. Đồng thời theo Điều 2 của Hiến pháp Lào năm 2015(sửa đổi, bổ sung) quy định: Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nước dân chủ nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được thực thi bởi nhân dân, vì lợi ích của nhân dân các dân tộc thuộc mọi tầng lớp xã hội mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức[40, tr. Với quy định này, HĐND đóng vị trí trung tâm nhằm dung hòa ý chí quyền lực nhà nước với tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Ngoài ra HĐND tỉnh cũng cũng có vị trí hết sức quan trọng trong xây dựng và quản lý mọi mặt đời sống Nhân dân địa phương về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng trong địa bàn tỉnh. Thứ hai, về vai trò của HĐND tỉnh HĐND tỉnh đóng vai trò của một cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, trong đó tính quyền lực nhà nước mà HĐND tỉnh có được xuất phát 13 từ quá trình thành lập thông qua hoạt động bầu cử phổ thông đầu phiếu đại diện cho nhân dân địa phương. Đồng thời, nhờ vậy mà HĐND tỉnh sẽ là cơ quan có quyền lực trong việc quyết định một số vấn đề quan trọng trong địa bàn tỉnh.