CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN 1.Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm hoạt động Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tùy theo góc độ xem xét: Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp của con người khi tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình [13]. Về phương diện triết học, tâm lý học người ta quan niệm hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả về phía con người (chủ thể) [13].
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người thể hiện hai cấp độ: - Cấp độ vi mô: Là cấp độ hoạt động của cơ thể, các giác quan, các bộ phận tuân theo quy luật sinh học. Nhờ có hoạt động mà con người tồn tại và phát triển. - Cấp độ vĩ mô: Là hoạt động có đối tượng của con người với tư cách là một chủ thể của hoạt động có mục đích. Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài – thế giới tự nhiên và xã hội; giữa mình với người khác; giữa mình với bản thân.
Trong quá trình quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau: - Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa, trong đó chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động hay nói cách khác đi tâm lý của con người (của chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình 16 làm ra sản phẩm. Quá trình này còn được gọi là quá trình “xuất tâm”. - Quá trình chủ thể hóa, có nghĩa là khi hoạt động của con người chuyển từ phía khách thể vào bản thân mình những quy luật bản chất của thế giới để tạo thành tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh thế giới. Quá trình chủ thể hóa còn gọi là quá trình nhập tâm.
Như vậy trong quá trình hoạt động, con người vứa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác đi tâm lý nhân cách được bộc lộ và hình thành trong hoạt động. Khái niệm công tác xã hội Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện các chức năng xã hội và tạo điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5) Tại Hội nghị Liên đoàn quốc tế nhân viên công tác xã hội được tổ chức tại Montreal Canada vào tháng 7/2000 các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy xã hội, giải quyết những vấn đề trong mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào các điểm tương tác con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng là các nguyên tắc căn bản của nghề nghiệp công tác xã hội.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm Công tác xã hội theo các tác giả: Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Lê Trang và Nguyễn Thị Thái Lan: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ 17 nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [9]. Mục đích của CTXH là tạo ra sự thay đổi tích cực trong xã hôi, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người, đặc biệt là những nhóm người yếu thế. Thúc đẩy các mối quan hệ xã hội, tăng cường các mối quan hệ tương tác giữa cá nhân, gia đình và xã hội, hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội. Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: “CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến”.
Theo Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế (IASW), CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp vì những người làm CTXH chuyên nghiệp (gọi là nhân viên CTXH hay Social Worker) là những người được đào tạo và trang bị các kiến thức, kỹ năng CTXH; họ có nhiệm vụ trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Khái niệm hoạt động công tác xã hội Hoạt động Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp, được thực hiện bởi nhân viên CTXH. Bằng những kiến thức tâm lý, xã hội và kỹ năng nghề nghiệp của mình, nhân viên Công tác xã hội khơi dậy tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng để giúp cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng phục hồi 18 các chức năng xã hội, đáp ứng nhu cầu; đồng thời vận động chính sách, nguồn lực trong xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng giải quyết các vấn đề mà họ chưa tự giải quyết được. Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 32/2010/QD-TTg do Thủ tướng chính phủ phê duyệt cũng đã đưa ra định nghĩa: “Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ, qua đó công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc của con người, vì sự tiến bộ xã hội“ Mặc dù CTXH có nguồn gốc từ các hoạt động từ thiện, công tác xã hội và hoạt động từ thiện đều là những hoạt động nhân đạo, trợ giúp con người khắc phục khó khăn, giải quyết vấn đề và hòa nhập công đồng song, hoạt động CTXH không phải hoạt động từ thiện; Hoạt động Công tác xã hội và hoạt động từ thiện có sự khác nhau về nhiều mặt: Về động cơ: Động cơ của hoạt động từ thiện là lòng thương người, thiện tâm, thiện chí, tạo uy tín cho tập thể, cho cá nhân.
Động cơ của CTXH cũng là lòng thương người, thiện tâm, thiện chí nhưng CTXH xem thân chủ (TC) và lợi ích của TC là mối quan tâm hàng đầu. Về phương pháp: Phương pháp hoạt động từ thiện mang tính chất ban ơn: Vận động người khác đóng góp; phân phát vật chất hay hàng hóa quyên góp được đến người nghèo, người gặp khó khăn; CTXH giúp thân chủ phát huy tiềm năng của chính mình để tự vươn lên giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học, dựa trên kiến thức, kỹ năng chuyên môn để giúp người tự giúp. Về mối quan hệ: Trong hoạt động từ thiện, mối quan hệ giữa người giúp và người được giúp lỏng lẻo, mang tính nhất thời, giống mối quan hệ từ trên xuống, với thái độ ban ơn; người giúp đỡ chủ động làm thay hoặc quyết định việc giúp đỡ, vì vậy mang tính áp đặt, thụ động, cũng có khi không có mối quan hệ nào. Mối quan hệ trong 19 CTXH là mối quan hệ nghề nghiệp, mang tính chất bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau.
Nhân viên CTXH tìm hiểu nhu cầu của thân chủ, tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ. Thân chủ chủ động lựa chọn phương án giải quyết vấn đề. Về mặt chuyên môn, trong hoạt động từ thiện, người giúp đỡ không nhất thiết phải được đào tạo nhưng trong CTXH, nhân viên CTXH phải được đào tạo về chuyên môn, kỹ năng, phương pháp. Về kết quả: Hoạt động từ thiện không giải quyết được tận gốc vấn đề mà chỉ xoa dịu tạm thời, người được giúp thì ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp.
Trong CTXH, vấn đề được giải quyết triệt để, thân chủ được hỗ trợ để khắc phục khó khăn tự vươn lên trong cuộc sống. Khái niệm người bệnh, đặc điểm và nhu cầu của người bệnh tại bệnh viện Khái niệm người bệnh: Theo Luật khám bệnh, chưa bệnh người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh [16]. Người bệnh trong hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện là những trường hợp đang nằm viện điều trị nội trú, không phân biệt độ tuổi, giới tính và có hoàn cảnh đặc biệt: - Người bệnh là trẻ em: Theo Luật Trẻ em (2016), trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các nhóm sau đây: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ; Trẻ em bị bỏ rơi; Trẻ em không nơi nương tựa; Trẻ em khuyết tật; Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; Trẻ em vi phạm pháp luật; Trẻ em nghiện ma túy; Trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Trẻ em bị tổn hại nghiêm trọng về thể chất và tinh thần do bị bạo lực; Trẻ em bị bóc lột; Trẻ em bị xâm hại tình dục; Trẻ em bị mua bán; Trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh phải điều trị dài ngày thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; Trẻ em di cư, trẻ em lánh nạn, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người chăm sóc [20].