CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Vấn đề liên quan đến những NMĐT nói chung không chỉ là một chủ đề trong các nghiên cứu xã hội học mà còn lan sang cả Tâm lý học, Dân số học, Giáo dục học và nhiều ngành liên quan khác. Nó tập trung nghiên cứu về những thách thức đặc thù mà NMĐT đối mặt khi phải đảm nhận vai trò làm mẹ và gánh trên mình trách nhiệm nuôi dưỡng con cái một mình. Điều này làm nổi lên nhiều khía cạnh mà một xã hội, một quốc gia mong muốn phát triển bền vững, cần quan tâm bao gồm sự bình đẳng, công bằng, chất lượng cuộc sống, quyền và cơ hội của NMĐT trong xã hội. Như vậy, vấn đề NMĐT không chỉ mang tính thời sự trong các lĩnh vực nghiên cứu mà còn đem lại những thông tin cần thiết để thúc đẩy sự quan tâm và hỗ trợ của xã hội cho nhóm đối tượng này.
Những nghiên cứu quốc tế Có nhiều nghiên cứu về NMĐT trên thế giới đã được công bố. Đặc biệt, trong các quốc gia có chính sách phúc lợi tiên tiến như Anh, Đức, Na-Uy và Pháp, các nghiên cứu về NMĐT rất đa dạng. Trong tác phẩm “Alone Single mothers at the end of the modern age” của Klett- Davies Martina (2007), tác giả đã phỏng vấn 70 NMĐT sống ở nội thành Berlin và Luân Đôn. So sánh cuộc sống của những NMĐT cùng con cái giữa hai xã hội Anh và Đức hiện nay, tác giả cho rằng xã hội công nghiệp hóa phương Tây đã và đang trải qua một sự biến đổi đầy kịch tính về cấu trúc gia đình từ những năm 1970.
Gia đình hạt nhân đang giảm dần, tỉ lệ ly dị và sống thử đang tăng nhanh, phụ nữ có con ở độ tuổi muộn hơn và cũng có ít con hơn. Tuy nhiên, sự biến đổi đáng chú ý nhất trong cấu trúc gia đình là số lượng gia đình đơn (cha/ mẹ) tăng nhanh. Tuy thuật ngữ và quan niệm có một số khác biệt nhỏ, tác giả nhận thấy rằng phần lớn phụ nữ được phỏng vấn tại Anh xem mình là NMĐT, trong khi những phụ nữ tại Đức gọi mình là “Alleinerziehende” (người giáo dục đơn thân). Tuy nhiên, dù có khác biệt này, NMĐT vẫn là một nhóm đồng nhất, đối mặt với những khó khăn tương tự và tồn tại như một nhóm riêng biệt so với những nhóm phụ nữ khác hoặc các gia đình đầy đủ hai thành viên chính.
14 Trong tác phẩm của Klett-Davies Martina, một điểm đáng chú ý là tỉ lệ NMĐT có việc làm ở Đức cao hơn so với Anh (63% / 54% vào năm 2002). Đồng thời, tỉ lệ NMĐT làm việc toàn thời gian cũng cao hơn ở Đức so với Anh (65% / 40%). Có hai nguyên nhân chính để giải thích điều này. Nguyên nhân đầu tiên liên quan đến trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của NMĐT.
Ở Đức, NMĐT thường có bằng cấp và có trình độ cao hơn so với NMĐT ở Anh. Trong khi đó, NMĐT ở Anh thường phụ thuộc nhiều vào trợ cấp từ chính phủ. Nguyên nhân thứ hai liên quan đến cách NMĐT xử lý và sắp xếp cuộc sống của mình, cũng như mối quan hệ với những người xung quanh, bất kể có hay không có sự hỗ trợ từ chính phủ. Tác giả phân loại NMĐT thành ba nhóm dựa trên cách họ đối mặt với thực tế của mình và tương tác với xã hội xung quanh.
Các nhóm này bao gồm: nhóm tiên phong (pioneer) - những NMĐT cảm thấy hài lòng với tình hình hiện tại, nhóm đương đầu (coper) - những NMĐT luôn tin rằng tình hình của họ chỉ là tạm thời và có thể cải thiện, và nhóm đấu tranh (struggler) - những NMĐT cảm thấy bị ràng buộc và áp lực xã hội và không có sự lựa chọn. Điều này cho thấy tâm lý không ổn định và những thách thức mà NMĐT phải đối mặt trong quá trình mang thai, sinh con, nuôi dạy con cái và tham gia vào các hoạt động xã hội. Tác giả Klett-Davies Martina còn đưa ra một số luận điểm quan trọng về việc so sánh và phân nhóm NMĐT trong các quốc gia châu Âu, và nghiên cứu “Sự giới hạn quyền lợi của những NMĐT Đan Mạch trong bối cảnh quốc tế” của Polakow Valerie, Halskov Therese và Jorgensen Per Schultz (2001) cũng đề cập đến những luận điểm này. Trong nghiên cứu của Polakow và đồng nghiệp, cuộc sống khó khăn của NMĐT ở Đan Mạch đã được tìm hiểu, phân tích và so sánh với các quốc gia khác.
Nghiên cứu này cho thấy NMĐT ở Đan Mạch không chỉ phải đối mặt với khó khăn trong việc sinh kế và nuôi con, mà còn phải đấu tranh cho quyền lợi của chính họ và con cái, bởi quyền lợi xã hội của họ bị hạn chế. Mang thai, sinh con và nuôi dạy con cái đã gây gián đoạn cho họ, làm họ phải nghỉ học và khó tìm được công việc ổn định trong tương lai. Họ cũng bị xem như nhóm xã hội ngoài lề, bị loại trừ và không được công nhận. Đáng chú ý là trong nghiên cứu này, Tác giả đưa ra các giải pháp nhằm giúp NMĐT thoát khỏi tình trạng nghèo đói thông qua việc tiếp cận giáo dục và đấu tranh cho sự hỗ trợ từ mạng lưới an sinh xã hội, bao gồm: quyền làm mẹ, quyền nuôi con, quyền học tập và quyền hưởng phúc lợi xã hội.
15 Trách nhiệm xã hội không chỉ thuộc về các nhóm thiệt thòi và gia đình của họ mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, từ góc độ trách nhiệm xã hội. Điều này được nhấn mạnh trong nghiên cứu của Goodin (1985) về “Protecting the Vulnerable - A Re- Analysis of our Social Responsibilities”. Nghiên cứu này khám phá vai trò của trách nhiệm xã hội trong các vấn đề liên quan đến đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm cá nhân và tập thể. Nghiên cứu này cung cấp nền tảng lý luận để tiếp cận và giải quyết các vấn đề của những nhóm thiệt thòi trong xã hội, nhấn mạnh rằng trách nhiệm xã hội không chỉ thuộc về cá nhân hay gia đình của những nhóm này mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Nghiên cứu “Single Mothers and Poverty in Costa Rica” của Anna Lucía Campos Mendivil và Ana Isabel Guerra năm 2017 nhấn mạnh tình trạng NMĐT và đói nghèo tại Costa Rica. Dữ liệu từ Bảng điều tra quốc gia về thu nhập và chi tiêu năm 2014 kết hợp với cuộc khảo sát trực tiếp với 40 NMĐT tại San José cho thấy những điểm sau: - Số lượng NMĐT tại Costa Rica: Khoảng 24% phụ nữ sống một mình tại Costa Rica là NMĐT. Tỉ lệ này đang tăng do hôn nhân đồng tính, quan hệ trước hôn nhân, cùng với việc gia tăng số phụ nữ ly hôn hoặc chia tay. - Tình trạng đói nghèo: Điều quan trọng là tình trạng đói nghèo ở NMĐT tại Costa Rica rất cao, với khoảng 42% sống dưới mức đói nghèo.
Tỉ lệ này cao hơn nhiều so với tỉ lệ đói nghèo của toàn bộ dân số Costa Rica. 67% không có việc làm ổn định. 47% số NMĐT tại Costa Rica đang sống trong tình trạng nghèo kéo dài, gặp khó khăn trong việc duy trì nhà cửa và đảm bảo đủ thực phẩm cho con cái. - Hỗ trợ từ chính quyền: nghiên cứu cho thấy chính phủ đã triển khai các chính sách hỗ trợ nhằm giảm tình trạng đói nghèo của NMĐT, bao gồm việc cung cấp tiền trợ cấp, chăm sóc y tế và giáo dục miễn phí cho con em của họ.
- Khó khăn trong tìm việc làm: là một trong những khó khăn lớn nhất đối với NMĐT tại Costa Rica, đặc biệt khi họ không có trình độ học vấn cao hoặc kỹ năng nghề nghiệp đủ để tìm kiếm. - Nghiên cứu này nhấn mạnh hiệu quả của giáo dục và trường học công trong việc thúc đẩy sự hoà nhập của các nhóm yếu thế, bao gồm cả NMĐT. Điều này phù hợp với định hướng của UNESCO về giáo dục và giáo dục hoà nhập, bảo 16 vệ khỏi sự loại trừ xã hội cho các đối tượng thiệt thòi như người khuyết tật, người nghèo, và người thiểu số. Chuyển sang chiều cạnh tâm lý, Nghiên cứu “Maternal Depression and Adverse Birth Outcomes Among Single Mothers” của Susan G.
Sherman và Lillian Gelberg (2014) tập trung vào mối liên hệ giữa bệnh trầm cảm ở NMĐT và các hậu quả xấu về sinh nở. Nghiên cứu này được thực hiện trên một nhóm phụ nữ đơn thân tại Los Angeles, California, Hoa Kỳ đã đưa ra các kết luận quan trọng như sau: - Tỉ lệ trầm cảm: trong số NMĐT là 34%, cao hơn so với tỉ lệ trầm cảm trong dân số nữ toàn cầu (từ 8% đến 20%). NMĐT mắc trầm cảm có nguy cơ gấp đôi trong những kết quả sinh nở không tốt: sinh non, trọng lượng cơ thể thấp và tử vong sơ sinh. - Ảnh hưởng của yếu tố xã hội và kinh tế: khoảng 61% NMĐT trong nghiên cứu sống dưới mức đói nghèo.
Tỉ lệ NMĐT không có bảo hiểm y tế là 28%. Tình trạng không có nhà ở ổn định và không đủ thu nhập để chi trả cho cuộc sống hàng ngày có liên quan đến mức độ trầm cảm cao và các kết quả sinh nở không tốt. - Hút thuốc và sử dụng chất kích thích: nghiên cứu cho thấy NMĐT trong tình trạng trầm cảm có tỉ lệ cao hơn trong việc hút thuốc và sử dụng chất kích thích trong khi mang thai. Tỉ lệ hút thuốc trong nhóm phụ nữ đơn thân có trầm cảm là 24,2%, trong khi tỉ lệ này chỉ là 8,8% trong nhóm phụ nữ không mắc trầm cảm.
Tỉ lệ sử dụng chất kích thích cũng cao hơn trong nhóm phụ nữ đơn thân trầm cảm, với 10,3% so với 4,3% trong nhóm phụ nữ không mắc trầm cảm. - Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị trầm cảm trong thai kỳ để giảm nguy cơ kết quả sinh nở không tốt. Sự hỗ trợ xã hội và gia đình đáng tin cậy cũng có liên quan đến mức độ trầm cảm thấp hơn và kết quả sinh nở tốt hơn. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 20% NMĐT mắc trầm cảm được chẩn đoán và điều trị, vì vậy việc cung cấp hỗ trợ cần thiết cho những NMĐT là rất quan trọng.
Sau nghiên cứu trên vài năm, nghiên cứu “The Health and Well-being of U. Teenage Mothers and Their Children Aged 1 Year After Delivery” của Stefanie Mollborn và Paula Fomby (2017) tập trung vào tình trạng sức khỏe và tâm lý xã hội của các bà mẹ tuổi teen (13-19 tuổi) và con cái của họ sau 1 năm kể từ khi sinh. 17 - Khoảng 42% người mẹ tuổi teen báo cáo có ít nhất một vấn đề sức khỏe hoặc tâm lý.