Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1. Téng quan vé tinh hinh nghiên cứu khai thác và quản lý tài nguyên cây thuốc trên thế giới. C Cây thuốc là một trong những nhóm thực vật có VaÏ trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống, vì Vậy con người ở mọi khu vê trên thế giới đã khai thác và sử dụng nhóm cây có ích từ rất sớm. Tới nay khoảng 80% dân số trên Thế gới dựa vào phần dược phẩm mang tính truyền ống lấy từ các loại động thực vật để sử dụng cho những sơ cứu Bán dầu khi họ nhiễm bệnh.
Nghiên cứu lịch sử các cây thuốc làm thuốc của các dân tộc và vùng lãnh thổ được nhiều nhà nghiên cứu quan.tâm và đưa ra nhiều bằng chứng xác thực. Trong cuốn Lịch sử niên đại cây cỏ ấn hành năm 1878, Charlen Packering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trước CN người dân khu vực Trung, Cận Đông đã sử dụng nhiều I Aai cây (Sung; Va, Cau dita.) để làm lương thực và chữa bệnh. Dựa trên các Bihe chứng khảo cổ, Borlsova B(1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5,000 ñăm trước CN cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi, và vì vậy là mục tiêu chiến ạt (cùng với phụ nữ, các cây lương thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Như vậy, tầm quan trọng của các loài cây lag Te được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý được thực hiện ngay từ thời kỳ cỗ đại và được thực hiện E‹ chiến binh.
Ban đầu những hiểu biết về cây thuốc của loài người đơn giản, họ truyền miệng lại cho con cháu của mình trong phạm vi hẹp cội nữ đồng„ gia đình. Dần dần qua nhiều đời những kinh nghiệm đó được đúc rút, chắt lọc ghi chép lại. Hiện nay các tài liệu cổ có ghi chép liên qua tới cây thuốc không nhiều, tuy nhiên với những bằng chứng hiện có đã cho thấy rõ bức tranh về lịch sử nghiên cứu cây thuốc trên thế giới. Cho đến nay nhiều tài liệu quý ghi chép lại kinh nghiệm sử dụng của người xưa vẫn còn lưu truyền tại Trung Quốc-Quốc gia có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng cây cỏ để trị bệnh.
Trong tập Thần Nông bản thảo chỉ rõ khoảng 5,000 năm trước đây người Trung Hoa cỗ đại đã sử dụng 365 vị thuốc cây thuốc để phòng và chữa bệnh. Vào đời nhà: HÃN (năm 168 trước CN) trong cuốn sách Thủ hậu cấp phương, tác giả đã thống kê:52 đơn thuốc trị bệnh bằng các loài cây cỏ. Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân thống kê 1,200 vị thuốc trong tập Bản thảo cương mục. Các tài liệu cổ xưa về sử dụng cây thuốc tăng được.
người Ai Cập cổ đại ghi chép cách đây khoảng 3,600 năm trước với 800 cây cây thuốc và trên 700 bài thuốc. Người Ấn Độ cổ đại cách đây-2,600 năm để lại tài liệu về công dụng của cây cỏ làm thuốc của người Hindu. & Các nhà thực vật Pháp được coi là những, người đầu tiên của châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam A, với hộ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn nhiều giá trị. “@au thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á Perry công bố 1,000 loài cây và dược liệu tại Đông g Nam Á đã được kiểm r chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách MedicinalPlants of East and Southeast Asia.
Tai nguyén thực vật đặc biệt là tài nguyên cây thuốc luôn chiếm giữ một Vị trí quan trọng trong, cuộế.sống của con người. Hiện nay ước tính trên thế giới có từ 36000 do.000 loài cây cỏ được dùng làm dược liệu theo phương pháp: tuyền thông va hién dai(TRAFFIC Bulletin 3,2006). Diéu tra, đánh giá nguÄệN rở 2a cây thuốc được coi là nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các quốc gia. Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ.Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc của các nước được sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực tiễn lớn (Trung Quốc dược dụng thực vật, Medicinal plants of Brunei Darusalam, American medicinal plants.
Theo một hướng khác, nghiên cứu cây thuốc trên thế giới được tập trung theo các mục đích ứng dụng cụ thể. Nhiều công trình theo hướng này đã được công bố trong những năm gần đây: Các cây chữabệnh thu, các cây chữa bệnh tiêu đường. Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của cácloi cây thuốc chính là các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên điệu, vì vậy nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất được tỉ hành và. đã thu ðýợc nhiều kết quả tốt.
Tuy nhiên hýớng nghiên cứu này phí lớn, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đội ngũ chuyên gia có:trình độ cao. Do vậy đây là các nghiên cứu được triển khai ở các nước phát triển và một số nước đang phát triển. Các cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất Ancanoit, Flavonait, Eurarin ` hiện đang được quan tâm nhiều. yaw Nghiên cứu tác dụng chứa Beith giving loài cây và bản chất hóa học của dược liệu được quan tâni trên wy mô lớn.
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hầu hết cây cỏ đều Số tính kháng sinh là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên. Tác dựng kháng:khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp: Sulfua, Saponin (Allium odorum); Becberin( Coptis chinensis Franch); Tanin( Ziryphusjujuba Miller). Mỗi loài cây với từng công năng tác dụng, ở mỗi địa phương lại ty chệ *iêng theo bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Chúng ta vẫn: bi Họa hồng (Rosa spp) là loài biểu tượng cho sắc đẹp và tình ueeu; quê tế ola chúng tại đất nước Bulgary lại coi đây là một cây.
Người dânở đây dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ, và bệnh phù thũng. Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho thấy-trong cánh hoa hồng có chứa một lượng Tanin, Glycosia, tỉnh dầu. Lượng tỉnh dầu này ngoài việc dùng làm hương liệu còn có khả năng chữa nhiều bệnh. Người Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ ( Desmodium triangulare Merr) sao vàng, sắc đặc để chữa bệnh kiết ly, tiêu chảy.
Bồ cu vẽ ( Breynia fruticosa) vốn là họ mọc hoang dại phổ biến ở Việt Nam; ít ai biết rằng nó có nhiều công dụng trong chữa bệnh. Người Philippine dùng vỏ cây này sắc nước uống cầm máu rất hiệu quả, tán bột rắc lên mụn nhọt, lở loét. Người ở Malayxia lấy cây Húng chanh (Coleun amborilicum) sắc lay nước BS, cho sản phụ uống; trị các chứng ho gà, đau cổ họng, sé mii 61'trẻ em› Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu Nướng của thế giới. Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện ung thư Hoa K (NCI) đã 42 điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40,000 mẫu cây thuốc, phát hi hang tram loài cây thuốc có khả năng chữa bệnh ung thư, 25% đơn thuốe ở có sử dụng những chế phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loài Hồng hoa (Catharanthus roseus) đặc biệt của Madagasca, dùng rất tốt cho việc Ghia bệnh máu trắng và các loại ung thư khác.
Các nhà khoa học, ho biết sử dụng chế phẩm này để điều trị bệnh máu trắng cho trẻ em đã làm ting ie. sống của trẻ từ 10 lên đến 90%. Việc phát hiện ra hóa “cất chữa trị tung thư hiệu nghiệm trong cây Thủy tùng vùng Thái BìnhDưỡng, một loài: cây bản địa của các rừng cổ Bắc Mỹ đã mag lại lợi nhuận kinh tế cao. Trong vòng hai mươi năm qua ngành công nghiệp chế biến Thay ting, thanh thuốc chữa ung thư đã mang lại một lợi nhuận là 500 triệu USD/ năm, những thuốc này đang được sử dụng rộng rãi ở châu Âu và châu nA - Hằng dược phẩm danh tiếng Biotech của Bỉ mỗi năm điều tra nghiên.
lọc 1,500 đến 2,000 loài cây thuốc từ các quốc gia trên thế giới. Nhiều loài Hoàng liên (Coptis sp) cũng được xếp vào danh lục thực vật nguy cấp ở nhiều nước Đông Á. Loài Ba gạc Rauvolfia serpentina(L) Benth,ex Kurz đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác lâu đời ở An D6, Bănglađét, Srilanka, Thái Lan. Hậu quả tất yếu từ hoạt động của con người đó là sự đe dọa gay gắt về khả năng sinh sống của các loài.
Nhiều loài động thực vật trên thế giới đã vĩnh viễn mất đi. Theo công ước Đa dạng sinh học (1992), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây gần 100 loài đã bị tuyệt chủng. Những loài có công dụng, đặc biệt đem lại lợi nhuận kinh tế có nguy cơ bị tuyệt chủng Tắt cao. Con người đang dần hủy hoại nguồn tài nguyen quy giá Hà họ không biết rằng nó có ý nghĩa rất lớn cho cuộc sống, của họ và cả thế hệ con cháu.
Điều tra đánh giá tiềm năng và nghiên cứu báo tỒy/ nguyên cây thuốc là vấn đề cấp bách đặt ra chồ toàn thê giới. Vì vậy, trên tỉnh thần Hội nghị quốc tế về cây thuốc họp tại Thái Lạn nã năm 1993 Tỏ chức Y tế thế giới, Qũy bảo vệ thiên nhiên và Tổ:chức Khoa học giáo dục Liên hợp quốc đã đưa ra phương án kế hoạch hành động, để bảo tồn và sử dụng cây thuốc trên quy mô toàn cầu. Tổng quan về tình hình nghiên cứu khai thác và quản lý tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam. "'w + Trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên để tìm thức ăn, tổ tiên đã sớm phát hiện ra những vị thuế| £ động vật và khoáng vật.
Đồng thời iz cây cỏ, trong sinh hoạt lao. động hằng ngày, đấu tranh với bệnh tật, tổ tiên ta đã sáng tao ra các phương, pháp chữa bệnh như: Xoa bóp, châm cứu, chích lễ. Thời Hồng Bàng và thời \ các Vua Hùng (2900 năm TCN) đó có tục ăn trầu và tục nhuộm 1g den bằng Cánh kiến đỏ, Vỏ lựu, Ngũ bội tử. Từ rất lâu, nhân dân: ta đã Eiếdùng Ging, Toi, Ot lam gia vj an hing ngày vừa giúp cho việc tiêu Ones phòng các bệnh đường ruột.
Người dân miền núi có tục ăn Ý đĩ và uống nước củ Riéng để phòng âm thấp và phòng chống sốt rét rừng. Cuối thế kỷ II TCN ở Giao Chỉ đã phát hiện các cây thuốc như: Sin day, Gừng, Riềng, Đậu khấu, Ích trớ, Lá lốt, Sả, Quế. Trải qua hơn 1000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã tích lũy một kho tàng kinh nghiệm y học dân tộc vô cùng độc đáo. Vào thời nhà Lý, triểu đình cử thái y chăm lo và bảo vệ sức khỏe nhà vua.
Ngoài ra, phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý trị liệu được lương.y Nguyễn Chỉ Thanh áp dụng chữa trị cho vua Lý Thần Tông vào năm 1136. 8 Y học cổ truyền dưới thời nhà Trần (1224-1399) đã có ae SE bước tiên đáng kể.