CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp 1.1 Khái quát chung về văn hóa Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại. Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Nó là một khái niệm có rất nhiều lớp nghĩa được dùng với nội hàm khác nhau về đối tượng tính chất và hình thức biểu hiện.
Năm 1952 hai nhà nhân chủng học người Mỹ là A.Kluckolm sưu tầm được 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Năm 1982, tại hội nghị về văn hóa UNESCO tại Mehico, đưa ra 200 định nghĩa về văn hóa. Do bản thân các vấn đề văn hóa là rất phức tạp, đa dạng, vì vậy các nhà nghiên cứu có các cách tiếp cận khác nhau từ đó có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa như: Tiếp cận về ngôn ngữ: Văn hóa trong quan niệm của cả phương Đông và phương Tây đều có nghĩa chung là sự giáo dục, ươm mầm và vun trồng nhân cách con người, làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Tiếp cận về quan niệm: Khái niệm văn hóa được dùng theo nhiều nghĩa nhưng có thể quy về hai cách hiểu chính là nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Hiểu theo nghĩa hẹp: Văn hóa là hệ tư tưởng, các hệ thống và các thể chế đi theo nó như văn hóa, nghệ thuật, khoa học, triết học, đạo đức học. Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn bởi bề sâu, bề rộng, không gian, thời gian hoặc chủ thể. Giới hạn theo bề sâu văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa, mang tính chất tinh thần như nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật; Giới hạn theo bề rộng thì văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực như văn hóa kinh doanh hoặc kiến thức như trình độ văn hóa, hoặc ứng xử như nếp sống văn hóa, Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ giá trị đặc thù của từng vùng miền; Giới hạn theo thời gian hoặc chủ thể, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị của từng dân tộc, từng nhóm xã hội ví dụ như văn hóa công ty, văn hóa Việt Nam. Hiểu theo nghĩa rộng: Unesco định nghĩa văn hóa tại hội nghị liên chính phủ các chính sách vận hóa họp năm 1970 tại Venise: "Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, 1 lối sống và lao động".
Tháng 12 năm 1986, UNESCO đã phát triển thêm định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng trong quá khứ, hiện tại qua các thể ký hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và cách thể hiện, đó là những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc". Như vậy văn hóa là một tổng thể tất cả những gì con người kiến tạo nên, văn hóa chính là những nét khác biệt giữa các dân tộc về vật chất và tinh thần. Qua các định nghĩa trên, văn hóa có thể được hiểu là tất cả giá trị vật chất và tinh thần của con người và xã hội bao gồm kiến thức, các phong tục tập quán, thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ; các giá trị, thái độ; các hoạt động văn học nghệ thuật; tôn giáo; giáo dục; phương thức giao tiếp; cách thức tổ chức xã hội. Như vậy, văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội 11 được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra.
Từ những quan điểm khác nhau về văn hóa trên đây, luận văn đề xuất khái niệm về văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội.2 Văn hóa doanh nghiệp Mọi tổ chức đều có văn hóa và những giá trị độc đáo riêng. Hầu hết các tổ chức đều không có ý thức là phải cố gắng tạo ra một nền văn hóa nhất định. Văn hóa của một tổ chức thường được tạo ra một cách vô thức, dựa trên những tiêu chuẩn của người điều hành đứng đầu hay người sáng lập ra tổ chức đó. Trong những năm gần đây, khái niệm văn hóa doanh nghiệp ngày càng được sử dụng phổ biến.
Văn hóa doanh nghiệp được nhắc đến như là một tiêu chí để đánh giá doanh nghiệp. Một số quan điểm cho rằng văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của doanh nghiệp. Có nhiều khái niệm về văn hóa doanh nghiệp được đưa ra 2 nhưng chưa có một định nghĩa chuẩn nào được công nhận. Văn hóa doanh nghiệp nhìn từ góc độ vốn xã hội, là một nguồn vốn phát triển của doanh nghiệp cần được tạo dựng và phát triển, là một tài sản của doanh nghiệp cần được sử dụng và phát huy nhằm đóng góp tạo ra hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh và vốn này đang ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, không kém phần quan trọng so với các nguồn vốn khác (lao động, tài chính, vật chất…).
Nhìn từ góc độ xã hội, văn hóa doanh nghiệp có thể coi là chất kết dính vô hình các thành viên trong xã hội (nhóm, cộng đồng…) với nhau tạo nên mạng lưới xã hội phát huy tác động lan tỏa cả trong và ngoài mạng lưới. Giáo trình Văn hóa doanh nghiệp của PGS.TS Dương Liễu: "Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó." Như vậy, văn hóa doanh nghiệp được thể hiện thông qua hệ thống giá trị, các chuẩn mực (lòng tin, sự tin cậy,.), các quan niệm, các đặc trưng của hành vi giao tiếp, ứng xử trong giao dịch (lịch sự, ân cần, tận tình, chu đáo,.) những hoạt động gắn kết, gắn bó cộng đồng (tính cộng đồng, tình yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau,.) của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp luôn là sự thống nhất và tương hỗ hữu cơ, hài hòa của các yếu tố cấu thành lên nó.3 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là tài sản quý của doanh nghiệp, quyết định sự trường tồn của doanh nghiệp. Tổng hợp các yếu tố gắn kết, điều phối, kiểm soát, tạo động lực.
văn hóa doanh nghiệp trong quản lý thể hiện hai vai trò quan trọng sau: Thứ nhất, văn hóa doanh nghiệp là công cụ triển khai chiến lược. Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn phát triển cần thiết phải xây dựng bán chiến lược hoạt động tương lai, xây dựng định hướng kinh doanh cần thực hiện, chỉ rõ thị trường mục tiêu của doanh nghiệp gồm: lĩnh vực hoạt động chủ yếu, khác hàng mục tiêu,. và định hướng hoạt động sản xuất như sản phẩm sản xuất, chất lượng, giá cả, dịch vụ. Sau khi xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp thì mục tiêu kế hoạch có đạt được hay không phụ thuộc vào hiệu quả 3 triển khai thực hiện chiến lược như thế nào.
Trên thực tế nhiều doanh nghiệp không thành công trong triển khai chiến lược do không tập hợp thống nhất được thành viên trong tổ chức. Do chiến lược được thực hiện bởi tất cả mọi thành viên của doanh nghiệp, tuy nhiên mỗi người tham gia vào một tổ chức với nhiệm vụ riêng, cương vị khác nhau và sở hữu những kỹ năng hành động không giống nhau. Họ là những mắt xích khác nhau trong một cỗ máy, nhưng để cỗ máy hoạt động theo hướng đã định thì buộc các mắt xích này phải phối hợp và thống nhất với nhau. Điều đó chỉ có thể đạt được nếu có những quy tắc hành động thống nhất để hướng dẫn, chỉ phối việc ra quyết định và hành động của mọi thành viên trong tổ chức, và đó không thể là gì khác ngoài yếu tố văn hóa.
Thứ hai, văn hóa doanh nghiệp là cách tạo động lực cho người lao động và sự đoàn kết cho doanh nghiệp. Lý thuyết văn hóa doanh nghiệp được phát triển dựa trên hai yếu tố: giá trị và con người. Giá trị là những niềm tin được thể hiện trong triết lý hành động gồm các quan điểm, cách tư duy, cách giải quyết công việc mà các thành viên trong doanh nghiệp lựa chọn sẽ sử dụng làm thước đo để đánh giá các quyết định, nguồn động lực để hành động và mục tiêu đề phần đầu. Giá trị là những đóng góp về phúc lợi, về sự phồn vinh và phát triển của xã hội, về việc gìn giữ và phát triển các giá trị đạo đức và nhân văn con người của doanh nghiệp.
Giá trị được hình thành trên cơ sở những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội và kinh doanh. Trong quá trình tồn tại và phát triển, mỗi doanh nghiệp sẽ lựa chọn cho mình một trong số những chuẩn mực mà xã hội thừa nhận và coi trọng làm giá trị và triết lý chủ đạo của mình. Bên cạnh đó, doanh nghiệp đưa ra những cam kết của mọi thành viên trong việc tự nguyện phần đầu vì những giá trị và kiên trì theo đuổi những triết lý đó. Giá trị là yếu tố tạo nên hình ảnh của doanh nghiệp trong xã hội.
Từ những giá trị và triết lý tốt đẹp các thành viên trong doanh nghiệp xây dựng nên mà doanh nghiệp và các thành viên trong doanh nghiệp được xã hội đánh giá cao, là cơ sở tạo nên thương hiệu, tên tuổi của doanh nghiệp. Tóm lại, yếu tố căn bản của văn hóa doanh nghiệp là về con người, vì con người, chính những con người trong doanh nghiệp đã tạo nên văn hóa doanh nghiệp mà người lãnh đạo chính là người khởi xướng, thành viên tổ chức đóng vai trò hoàn thành.