Chương 1. Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp. Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Thiết bị y tế Thái Sơn. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện văn hóa doanh nghiệp tại Công ty TNHH Thiết bị y tế Thái Sơn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về văn hóa doanh nghiệp Khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp Khái niệm về văn hóa Văn hóa là tổng thể các giá trị, niềm tin, chuẩn mực, phong tục, tập quán, nghệ thuật, ngôn ngữ, tri thức và các biểu hiện khác của đời sống xã hội mà một cộng đồng người hình thành, duy trì và truyền lại qua các thế hệ. Văn hóa không chỉ bao gồm những khía cạnh vật chất như trang phục, ẩm thực, kiến trúc mà còn bao hàm cả những yếu tố phi vật chất như tư tưởng, tín ngưỡng, đạo đức và lối sống. Văn hóa thể hiện cách mà con người hiểu biết, tương tác với thế giới xung quanh và với nhau, từ đó hình thành nên bản sắc riêng của từng dân tộc, quốc gia hoặc nhóm xã hội.
Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều, trong đó phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng cơ bản như sau: Theo nghĩa rộng Văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, bao gồm các yếu tố như ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật, luật pháp, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán, tri thức, và cả hệ thống các quan hệ xã hội. Văn hóa không chỉ là những di sản cụ thể mà còn là những chuẩn mực, giá trị và hành vi mà một xã hội hay một cộng đồng con người chia sẻ và truyền lại qua các thế hệ. Nó phản ánh sự phát triển của con người qua các thời kỳ lịch sử và cũng là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng và duy trì bản sắc cá nhân, dân tộc, và quốc gia. Văn hóa theo nghĩa này được xem là tất cả những già con người tạo ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” ([1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, 2000, trang 413). Định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn. Năm 2002, UNESCO đã viết: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác 1 định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Vì vậy, theo nghĩa rộng văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người. “Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng vươn tới chân – thiện – mỹ và khả năng sáng tạo chân – thiện – mỹ trong đời sống” ([2] PGS. Dương Thị Liễu và cộng sự, 2021, trang 9).
Theo nghĩa hẹp Văn hóa thường được hiểu là các sản phẩm tinh thần và hoạt động sáng tạo của con người. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, hóa học,.) và văn hóa nghệ thuật (văn học, điện ảnh,…) được coi là hai hệ chính của hệ thống văn hóa. Văn hóa xuất hiện trong các lĩnh vực như văn học, nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, sân khấu, và kiến trúc. Đây là những lĩnh vực mà con người thể hiện cảm xúc, tư duy, và khả năng sáng tạo của mình, từ đó tạo ra những giá trị thẩm mỹ và tư tưởng mang tính nghệ thuật.
Văn hóa theo nghĩa hẹp tập trung vào các hoạt động và sản phẩm có tính chất nghệ thuật, thể hiện sự sáng tạo của con người và được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn thẩm mỹ, nghệ thuật, và giá trị tinh thần. Ví dụ, văn hóa trong nghĩa hẹp có thể đề cập đến: các tác phẩm văn học như tiểu thuyết, thơ ca, kịch bản; các loại hình nghệ thuật như hội họa, âm nhạc, múa, điện ảnh; các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật và lịch sử; các truyền thống văn hóa nghệ thuật như lễ hội, nghi thức, phong tục liên quan đến nghệ thuật. Trong bối cảnh này, văn hóa không bao gồm tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội, mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực mà con người tạo ra những giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của xã hội. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp “Văn hóa doanh nghiệp chính là cách nghĩ, cách sống và cách làm của doanh nghiệp.
Hay nói một cách cụ thể hơn, văn hóa doanh nghiệp chính là cách nghĩ, cách sống và cách làm việc của từng con người trong doanh nghiệp đó.” - (Trích “Quản trị bằng Văn hóa” – TS. Có thể hiểu, văn hóa doanh nghiệp là những giá trị cốt lõi, niềm tin, hành vi, thái độ được chia sẻ, đặc trưng cho các thành viên và ban lãnh đạo trong cách hoạt động, thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh. Văn hóa doanh nghiệp bắt nguồn từ các mục tiêu, chiến lược, cấu trúc và cách tiếp cận của tổ chức đối với nhân viên, khách hàng, đối tác, cộng đồng. Đối thủ cạnh tranh có thể sao chép những điểm nổi bật hoặc tiên phong của doanh nghiệp, như chiến lược, sản phẩm, hệ thống, 2 duy chỉ có một thứ họ không thể, đó chính là văn hóa doanh nghiệp.
Đây được xem là lợi thế cạnh tranh, mang lại sự phát triển bền vững cho tổ chức.TS Dương Thị Liễu trong Giáo trình Văn hoá kinh doanh: “Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp”. Đây là định nghĩa được sử dụng phổ biến trong các giáo trình giảng dạy ở các trường đại học tại Việt Nam và cũng khá tương đồng với các định nghĩa được nêu ở trên. Văn hóa doanh nghiệp được phản ánh trong những quy định, chẳng hạn như giờ làm việc, phúc lợi nhân viên, bố trí văn phòng, trang phục, quyết định tuyển dụng, sự hài lòng của khách hàng và nhiều khía cạnh khác. Văn hóa doanh nghiệp tạo nên hình tượng hay biểu tượng của doanh nghiệp, đồng thời nó cũng xây dựng nên những nét tính cách, phòng thái riêng rất dễ nhận ra của các thành viên của doanh nghiệp ở trong xã hội.TS Dương Thị Liễu và cộng sự, 2021, trang 89) Như vậy, văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các chuẩn mực về tinh thần và vật chất, quy định mối quan hệ, thái độ và hành vi ứng xử của tất cả các thành viên trong doanh nghiệp hướng tới những giá trị tốt đẹp tạo nét riêng độc đáo, đồng thời là sức mạnh lâu bền của doanh nghiệp thể hiện qua sức mạnh sản phẩm của doanh nghiệp trên thương trường.
Các đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp gồm ba đặc trưng cơ bản là tính nhân sinh, tính giá trị và tính ổn định. Cụ thể như sau: Tính nhân sinh Văn hóa doanh nghiệp có thể hình thành một cách “tự phát” hay “tự giác”. Theo thời gian, những thói quen làm việc giữa những người cùng một tổ chức sẽ càng rõ ràng hơn và hình thành ra “cá tính” của đơn vị. Do đó, một doanh nghiệp, dù muốn hay không, đều sẽ dần hình thành văn hoá của tổ chức mình.
Văn hóa doanh nghiệp khi hình thành một cách tự phát có thể phù hợp với mong muốn và mục tiêu phát triển của tổ chức hoặc không. Chủ động tạo ra những giá trị văn hoá mong muốn là điều cần thiết nếu doanh nghiệp muốn văn hóa thực sự phục vụ cho định hướng phát triển chung, góp phần tạo nên sức mạnh cạnh tranh của mình. 3 Tính giá trị Không có văn hóa doanh nghiệp “tốt” và “xấu” (cũng như cá tính, không có cá tính tốt và cá tính xấu), chỉ có văn hoá phù hợp hay không phù hợp (so với định hướng phát triển của doanh nghiệp). Giá trị là kết quả thẩm định của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang độ nhất định; và những nhận định này được thể hiện ra thành “đúng - sai”, “tốt - xấu”,… nhưng hàm ý của “sai” của “xấu”, về bản chất, chỉ là “không phù hợp”.
Giá trị cũng là khái niệm có tính tương đối, phụ thuộc vào chủ thể, không gian và thời gian. Tính ổn định Cũng như cá tính của mỗi con người, văn hoá doanh nghiệp khi đã được định hình thì “khó thay đổi”. Qua thời gian, các hoạt động khác nhau của các thành viên doanh nghiệp sẽ giúp các niềm tin, giá trị được tích lũy và tạo thành văn hoá. Sự tích lũy các giá trị tạo nên tính ổn định của văn hoá.
Các chức năng của văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp có nhiều chức năng quan trọng, ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của tổ chức, từ hiệu suất làm việc của nhân viên đến hình ảnh công ty trong mắt khách hàng và đối tác. Dưới đây là các chức năng của văn hóa doanh nghiệp: − Chức năng định hướng: văn hóa doanh nghiệp cung cấp cho các thành viên trong tổ chức một khuôn mẫu chung về cách suy nghĩ, hành động và đưa ra quyết định. Nó định hướng cho nhân viên về cách thực hiện công việc, từ đó giúp họ hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của mình trong tổ chức.