CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 1.TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Khái niệm về kế toán quản trị Theo hiệp hội quốc gia Mỹ - National Association of Accountants (NAA) – văn kiện số 1A tháng 3/1981: “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch, trong việc kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đo, đong, đếm, thu thập tích lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho nhà quản lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”. Theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ: “Kế toán quản trị là lĩnh vực kế toán có liên quan đến việc định lượng các thông tin kinh tế và hỗ trợ những nhà quản trị trong việc đưa ra cá quyết định tài chính, đặc biệt trong việc hoạch định kế hoạch và quản lý giá thành”.
Theo các giáo sư đại học South Florida: “Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp những thông tin định lượng cho các nhà quản trị, mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”. Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì kế toán quản trị là “quá trình nhận diện, đo lường, phân tích, diễn giải và truyền đạt thông tin trong quá trình thực hiện mục đích của tổ chức. Kế toán quản trị là một bộ phận thống nhất trong quá trình quản lý, và nhân viên quản lý là những đối tác chiến lược quan trọng trong đội ngũ quản lý của tổ chức”, trong đó: - Nhận diện: là sự nhận dạng để ghi nhận và đánh giá các nghiệp vụ e 9 kinh tế phát sinh nhằm có hành động kế toán thích hợp. - Đo lường: là sự định lượng, gồm cả ước tính các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra hoặc dự báo các sự kiện kinh tế có thể xảy ra.
- Tổng hợp: là sự xây dựng các phương pháp nhất quán và có hệ thống nhằm ghi sổ và phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. - Phân tích: là sự phân giải để xác định nguyên nhân của các kết quả trên báo cáo và mối quan hệ của các nguyên nhân đó với sự kiện kinh tế. - Soạn thảo và diễn giải: là sự liên kết các số liệu kế toán hay số liệu kế hoạch nhằm trình bày thông tin một cách hợp lý, đồng thời đưa ra các kết luận rút ra từ các số liệu đó. - Truyền đạt: là sự báo cáo các thông tin thích hợp cho nhà quản trị và đưa ra các kết luận rút ra từ các số liệu đó.
- Lập kế hoạch: là sự định lượng trước và diễn giải các ảnh hưởng của nghiệp vụ kinh tế dự kiến đến tổ chức. Lập kế hoạch gồm cả quá trình triển khai hệ thống kế hoạch, xây dựng các mục tiêu khả thi, và chọn lựa các phương pháp thích hợp để giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch. - Đánh giá: là sự xét đoán các sự kiện đã qua và sự kiện dự kiến nhằm chọn ra phương án hoạt động tối ưu nhất. Đánh giá cũng bao gồm việc trình bày số liệu thành các xu hướng và các mối quan hệ, sau đó truyền đạt các kết luận rút ra.
- Kiểm tra: là sự đảm bảo tính thống nhất của thông tin tài chính trên báo cáo, là sự giám sát và đo lường kết quả và đề ra các hành động sửa sai cần thiết để hướng hoạt động theo tiến trình đã định. - Đảm bảo tính trách nhiệm đối với nguồn lực sử dụng: là sự thực thi một hệ thống báo cáo gắn liền với các trách nhiệm trong tổ chức nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực và đo lường kết quả của nhà quản lý; là sự truyền đạt các mục đích và mục tiêu của quản lý cho toàn bộ tổ chức dưới e 10 hình thức phân bổ trách nhiệm; là sự cung cấp một hệ thống kế toán và bản báo cáo mà có thể tổng hợp và báo cáo các yếu tố doanh thu, chi phí, tài sản, công nợ và các thông tin định lượng thích hợp cho nhà quản trị để từ đó họ có thể kiểm soát tốt hơn các yếu tố đó. Theo Luật Kế toán Việt Nam 2015, kế toán quản trị được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật Kế toán, Khoản 10, Điều 3). Tóm lại các khái niệm trên được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau, song tất cả đều có những điểm chung như sau: KTQT là một hệ thống thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp để hoạch định, kiểm soát và ra quyết định, nhằm quản lý và sử dụng một cách hiệu quả nguồn lực doanh nghiệp, qua đó gia tăng giá trị khách hàng và giá trị cổ đông.
Thông tin đầu vào của hệ thống KTQT có phạm vi rộng vượt ra ngoài khuôn khổ của hệ thống kế toán doanh nghiệp. Đặc điểm của kế toán quản trị Thông tin cung cấp mang tính định hướng cho tương lai nên nặng về dự báo, phạm vi thành lập thông tin gắn với từng bộ phận, từng chức năng hoạt động cụ thể có tính linh hoạt cao, thông tin cung cấp được thực hiện theo yêu cầu ra quyết định của nhà quản trị nên có thể được lập báo cáo không cố định một cách cứng nhắc, nội dung thông tin cung cấp có tính đa dạng và khác biệt theo cấp độ quản lý, linh hoạt các loại thước đo chú trọng cả thông tin tài chính và phi tài chính, việc tổ chức thực hiện KTQT và cung cấp thông tin không phụ thuộc vào quy định của nhà nước và tùy theo đặc điểm và nhu cầu của nhà quản trị. Do tính hữu ích của thông tin mà nó cung cấp, ngày nay, KTQT được ứng dụng rộng rãi ở bất kỳ tổ chức nào có sử dụng các nguồn lực kinh tế để tạo ra e 11 sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội; đó có thể là đơn vị kinh doanh như các doanh nghiệp, cũng có thể là các đơn vị phi lợi nhuận. Xuất phát từ nội hàm về bản chất của KTQT, chúng ta có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản của KTQT sẽ bao gồm những phần sau đây: - Về bản chất: Kế toán quản trị là một quá trình đo lường.
- Về phạm vi: Kế toán quản trị gồm các thông tin tài chính như giá phí, thông tin tác nghiệp như tỷ lệ sản phẩm hỏng v.v… - Về mục đích: Kế toán quản trị giúp cho tổ chức đạt mục tiêu chiến lược nhưng đó không phải là mục tiêu lập báo cáo tài chính hay báo cáo thuế. - Về thuộc tính: Kế toán quản trị gồm ba thuộc tính: kỹ thuật, hành vi ứng xử và văn hóa. Thuộc tính kỹ thuật: Làm gia tăng sự hiểu biết các hiện tượng được đo lường và cung cấp các thông tin thích hợp cho quyết định chiến lược. Thuộc tính hành vi ứng xử: Khuyến khích các hành động nhất quán với mục tiêu của tổ chức.
Thuộc tính văn hóa: Hỗ trợ hay tạo ra giá trị văn hóa, lòng tin và giá trị đạo đức trong tổ chức và xã hội. Vai trò của kế toán quản trị Như chúng ta đã biết, để điều hành hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị phải thông qua các chức năng quản lý cơ bản như hoạch định, tổ chức, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định. Còn KTQT sử dụng các phương pháp riêng của mình để phân tích, thiết kế, tổng hợp và truyền đạt thông tin phục vụ các chức năng quản trị. Qua đó thể hiện vai trò của kế toán quản trị: Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt mục tiêu đó.
Chức năng lập kế hoạch và e 12 dự toán của quản lý được thực hiện tốt, có tính hiệu lực và khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở thông tin phù hợp, hợp lý do bộ phận KTQT cung cấp. Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rõ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai. Như vậy, KTQT cung cấp thông tin cần thiết (như các chỉ tiêu về số lượng, giá trị phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch, các chỉ tiêu này có tính quá khứ và tính dự báo) để các nhà quản lý đưa ra các quyết định ngắn hạn, dài hạn, đáp ứng mục tiêu của tổ chức. Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện Chức năng tổ chức thực hiện bao gồm thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin của kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện kế hoạch đó.
Chức năng này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong doanh nghiệp và tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch. Đồng thời, yêu cầu nhà quản lý phải liên kết các bộ phận với nhau, sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt được các mục tiêu đã dự định. Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá Căn cứ vào các chỉ tiêu của các kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kết quả của doanh nghiệp. Qua đó, phân tích và thu nhận các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo.
Thực chất là so sánh sự khác nhau giữa thực hiện với kế hoạch đã xây dựng, từ đó xác định các nguyên nhân ảnh hưởng để điều chỉnh quá trình thực hiện của từng người, từng bộ phận nhằm đạt được các mục tiêu tối ưu. Hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện thông qua việc phân công, phân cấp dựa trên cơ chế quản lý tài chính và trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong một tổ chức hoạt động cụ thể. e 13 Sau khi đã triển khai thực hiện kế hoạch, công việc kiểm tra, kiểm soát nhằm điều chỉnh và đánh giá có vị trí vô cùng quan trọng.