Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Công Thƣơng tỉnh Bình Định Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Công Thƣơng tỉnh Bình Định e 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Theo giáo trình Quản lý Tài chính công: “Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm” 5, tr.
Theo Điều 1 - Điểm 2 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (SNCL) thì “Đơn vị SNCL do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nƣớc” [4]. Đơn vị SNCL đƣợc xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: - Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng; - Đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí và tài sản để hoạt đông thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo chế độ Nhà nƣớc quy định; - Có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nƣớc quy định; - Có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nƣớc hoặc ngân hàng đề ký gửi các khoản thu, chi tài chính. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Để quản lý tốt các hoạt động các đơn vị SNCL cũng nhƣ quản lý đƣợc quá trình phát triển của các loại hình dịch vụ này, phục vụ tốt cho hoạt động của nền kinh tế quốc dân, cần phải xác định các đơn vị sự nghiệp tuỳ thuộc vào lĩnh vực hoạt động hay khả năng đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị. Căn cứ theo cấp ngân sách, các đơn vị SNCL được phân loại như sau: Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do các cấp chính quyền giao, phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dƣới, chịu trách nhiệm trƣớc Nhà nƣớc về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dƣới trực thuộc.
Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị có trách nhiệm quản lí kinh phí của toàn bộ ngành và trực tiếp giải quyết các vấn đề có liên quan đến kinh phí với cơ quan tài chính. Thuộc đơn vị dự toán cấp I là các Bộ ở Trung ƣơng, các Sở ở tỉnh, thành phố, các phòng ở cấp quận, huyện. Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp III, tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dƣới. Đơn vị dự toán cấp II là các đơn vị thuộc đơn vị dự toán cấp I và là đơn vị trung gian thực hiện nhiệm quản lí kinh phí nối liền giữa đơn vị dự toán cấp I với đơn vị dự toán cấp III Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách, nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II), có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp dƣới (nếu có).
Đơn vị dự toán cấp III là các đơn vị dự toán cấp cơ sở trực tiếp chi tiêu kinh phí để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của mình, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ quản lí kinh phí tại e 9 đơn vị dƣới sự hƣớng dẫn của đơn vị dự toán cấp trên. Đơn vị dự toán cấp dƣới của cấp III đƣợc nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên nhƣ quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I. Việc phân chia các đơn vị dự toán thành các cấp khác nhau trong hệ thống các đơn vị hành chính sự nghiệp chỉ có ý nghĩa tƣơng đối. Xác định một đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc loại hình cấp dự toán nào là tùy thuộc vào mối quan hệ giữa nó với các đơn vị dự toán khác trong cùng ngành hoặc với cơ quan tài chính.
Thứ bậc này sẽ bị thay đổi cùng với sự thay đổi về cơ chế phân cấp quản lý kinh tế tài chính - đặc biệt là cơ chế phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nƣớc b. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp công lập có thể phân loại thành: - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa thông tin - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thể dục thể thao - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực khoa học công nghệ, môi trƣờng - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực kinh tế - Đơn vị sự nghiệp khác c. Căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên từ nguồn thu sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp được chia thành: - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm kinh phí cho hoạt động thƣờng xuyên: là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm đƣợc toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị. - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một kinh phí hoạt động thƣờng e 10 xuyên: là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhƣng chƣa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên, ngân sách nhà nƣớc phải cấp một phần cho hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị.
- Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: là những đơn vị sự nghiệp có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thƣờng xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập Đặc điểm hoạt động sự nghiệp của các đơn vị SNCL công lập bao gồm hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ. Hoạt động sự nghiệp là hoạt động chủ yếu của các đơn vị và đƣợc Nhà nƣớc giao chức năng, nhiệm vụ thực hiện dịch vụ công ích để phục vụ xã hội, phi lợi nhuân. Hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ là hoạt động mở thêm của các đơn vị trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đƣợc Nhà nƣớc giao tại các đơn vị SNCL công lập đƣợc phép tổ chức hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ trên cơ sở lấy thu bù chi và có tích lũy nhằm tăng thu nhập cho ngƣời lao động và đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn liền với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hoá, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị về xã hội… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối tƣợng trên phạm vi rộng, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị SNCL là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thƣờng có tác dụng lan toả, truyền tiếp. Hoạt động sự nghiệp trong các đơn vị SNCL thường gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước. Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự e 11 nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội.
Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chƣơng trình mục tiêu quốc gia nhƣ: Chƣơng trình xoá mù chữ, chƣơng trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chƣơng trình dân số - kế hoạch hoá gia đình… Những chƣơng trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nƣớc mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả. Nếu để tƣ nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp từ đó kìm hãm sự phát triển của xã hội. - Mô hình tổ chức hoạt động của các đơn vị SNCL, bao gồm: Tổ chức hoạt động sự nghiệp tách biệt với hoạt động SXKD, cung ứng dịch vụ. Tổ chức hoạt động sự nghiệp kết hợp với hoạt động SXKD, cung ứng dich vụ.
Hoạt động của các bộ phận trong một đơn vị có mối quan hệ phối hợp lẫn nhau, dƣới sự điều hành trực tiếp của ngƣời đứng đầu bộ phận, sự giám sát, quản lý, chỉ đạo chung của thủ trƣởng đơn vị. Do chức năng nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp khác nhau nên mô hình tổ chức bộ máy quản lý và yêu cầu về thông tin kế toán phục vụ cho quản lý nói chung, quản lý tài chính nói riêng cũng khác nhau. Vì vậy tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức công tác kế toán cũng phải đƣợc xây dựng sao cho phù hợp.