Chương 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài hoàn thiện quy trình thủ tục hải quan nhập khẩu máy móc thiết bị từ thị trường Hàn quốc của Công ty TNHH OSCO International. Cơ sở lý luận về quy trình thủ tục hải quan nhập khẩu hàng hóa. Thực trạng quy trình thủ tục hải quan nhập khẩu máy móc thiết bị từ thị trường Hàn Quốc của Công ty TNHH OSCO International.
Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình thủ tục hải quan nhập khẩu máy móc thiết bị từ thị trường Hàn quốc của Công ty TNHH OSCO International. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH THỦ TỤC HẢI QUAN NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 2. Tổng quan hoạt động nhập khẩu 2. Khái niệm Theo giáo trình bộ môn kinh doanh quốc tế của trường Đại học Thương Mại: "Nhập khẩu hàng hóa được hiểu là các nghiệp vụ cần thiết để đưa hàng hóa hay nguyên vật liệu từ bên ngoài vào trong lãnh thổ một quốc gia hoặc từ khu vực đặc biệt như khu vực hải quan riêng năm trên quốc gia đó để phục vụ tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc để chờ tái xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Vai trò Vai trò của nhập khẩu hàng hóa là rất quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế. Nhập khẩu hàng hóa giúp đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất của quốc gia, đồng thời tạo điều kiện cho việc mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế. Cụ thể, vai trò của nhập khẩu hàng hóa bao gồm: - Nhập khẩu góp phần làm đa dạng thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của người dân trong nước đồng thời tránh được tình trạng khan hiếm bất ổn. Hoạt động nhập khẩu hàng hóa từ thị trường nước ngoài giúp thị trường hàng hóa trong nước trở nên đa dạng và nhiều chủng loại hơn.
Nhờ đó người tiêu dùng có thêm nhiều sự lựa chọn hàng hóa với chất lượng, giá cả, mẫu mã và nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Bên cạnh đó, có những mặt hàng đặc biệt do khan hiếm hoặc do trình độ công nghệ mà một quốc gia có thể chưa tự sản xuất được thì nhập khẩu từ nước ngoài là kênh hiệu quả giúp người tiêu dùng ở quốc gia đó tiếp cận và sử dụng được các mặt hàng này. - Nhập khẩu góp phần xóa bỏ thế độc quyền của các doanh nghiệp sản xuất trong nước đồng thời tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp này không ngừng thay đổi để phát triển. Khi hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài về nhiều, sức ép cạnh tranh ở thị trường trong nước cũng không ngừng tăng lên.
Việc người tiêu dùng có thêm sự lựa chọn đối với các hàng hóa hay nguyên vật liệu ngoại nhập 8 khiến các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển để cải tiến và nâng cao chất lượng các sản phẩm hiện có cũng như tạo ra các sản phẩm mới với chất lượng cao hơn, đồng thời thực hiện các hoạt động marketing và xây dựng kênh phân phối hiệu quả hơn từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường. - Nhập khẩu là quá trình để thực hiện việc chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia, từ quốc gia có trình độ phát triển công nghệ cao hơn sang các quốc gia khác. Việc chuyển giao công nghệ và học hỏi giữa các quốc gia giúp các công nghệ mới nhanh chóng được lan tỏa đồng thời tạo nên sự cân bằng về trình độ sản xuất giữa các quốc gia. Các nước đang phát triển sẽ có điều kiện tiếp cận được với các công nghệ mới nhanh hơn với mức chi phí thấp hơn.
Điều này cũng giúp cho việc phân công lao động và chuyên môn hóa trong sản xuất ở các nước được thực hiện hiệu quả hơn, từ đó nâng cao năng suất lao động và phát huy được lợi thế so sánh của mỗi quốc gia. Các hình thức nhập khẩu hàng hóa 2. Nhập khẩu trực tiếp Nhập khẩu trực tiếp là việc doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa hay nguyên vật liệu từ thị trường nước ngoài vào trong nước với chi phí và danh nghĩa của mình rồi sau đó phân phối hàng hóa nhập khẩu này đến những khách hàng có nhu cầu trong nước. Theo cách thức này, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việc mua và việc bán không ràng buộc nhau.
Bên mua có thể chỉ mua mà không bán, bên bán có thể chỉ bán mà không mua. Hoạt động chủ yếu là doanh nghiệp trong nước nhập khẩu hàng hóa, vật tư ở thị trường nước ngoài đem về tiêu thụ ở thị trường trong nước. Với loại hình này bên nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và thực hiện theo đúng hợp đồng, phải tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí giao dịch, nghiên cứu, giao nhận, kho bãi cùng các chi phí có liên quan đến tiêu thụ hàng hóa, thuế nhập khẩu. Nhập khẩu ủy thác Nhập khẩu ủy thác là việc doanh nghiệp ủy thác cho một đơn vị trung gian làm cầu nối thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài 9 vào thị trường trong nước.
Với cách thức này thì đơn vị trung gian sẽ thực hiện các công việc được giao với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên ủy thác giao cho. Hoạt động này được làm trên cơ sở hợp đồng uỷ thác giữa các doanh nghiệp. Như vậy, hợp đồng uỷ thác nhập khẩu được hình thành giữa các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một loại vật tư, thiết bị nào đó nhưng lại không được phép nhập khẩu trực tiếp hoặc gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn hàng, thực hiện thủ tục ủy thác nhập khẩu cho doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận ủy thác phải cung cấp cho bên ủy thác các thông tin về thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơn hàng ủy thác thương lượng đàm phán và ký kết hợp đồng ủy thác.
Bên nhận ủy thác phải tiến hành làm các thủ tục nhập khẩu và được hưởng phần thù lao gọi là phí uy thác. Doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu ủy thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng nhập, giá trị hàng nhập chỉ được tính vào kim ngạch xuất nhập khẩu không được tính vào doanh thu. Khi nhận ủy thác phải làm hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hàng hóa, vật tư với nước ngoài và một hợp đồng ủy thác nhập khẩu với bên ủy thác ở trong nước. Cơ sở lý luận chung về thủ tục hải quan 2.
Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về thủ tục hải quan Theo giải thích tại Khoản 23, Điều 4, Luật Hải quan 2014: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Có thể hiểu đơn giản, thủ tục hải quan là các thủ tục cần thiết để đảm bảo hàng hóa, phương tiện vận tài được xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên giới. Khái niệm về thủ tục hải quan điện tử Thủ tục hải quan điện tử được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 08/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan như sau: 10 “Thủ tục hải quan điện tử” là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp 12 luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
Hồ sơ hải quan Theo khoản 8 Điều 4 Luật Hải quan 2014 thì hồ sơ hải quan gồm tờ khai hải quan, các chứng từ phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan theo quy định của Luật Hải quan 2014. Căn cứ Điều 24 Luật Hải quan 2014 quy định về hồ sơ hải quan bao gồm: (1) Tờ khai hải quan hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan; (2) Chứng từ có liên quan. Tùy từng trường hợp, người khai hải quan phải nộp hoặc xuất trình hợp đồng mua bán hàng hóa, hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra hoặc miễn kiểm tra chuyên ngành, các chứng từ liên quan đến hàng hóa theo quy định của pháp luật có liên quan. Địa điểm làm thủ tục hải quan Địa điểm làm thủ tục hải quan được quy định tại Điều 22 Luật Hải quan như sau: 1.
Địa điểm làm thủ tục hải quan là nơi cơ quan hải quan tiếp nhận, đăng ký và kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải. Địa điểm tiếp nhận, đăng ký và kiểm tra hồ sơ hải quan là trụ sở Cục Hải quan, trụ sở Chi cục Hải quan. Địa điểm kiểm tra thực tế hàng hóa bao gồm: ˗ Địa điểm kiểm tra tại khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; bưu điện quốc tế; cảng biển, cảng thủy nội địa có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; cảng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa được thành lập trong nội địa; ˗ Trụ sở Chi cục Hải quan; ˗ Địa điểm kiểm tra tập trung theo quyết định của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan; ˗ Địa điểm kiểm tra tại cơ sở sản xuất, công trình; nơi tổ chức hội chợ, triển lãm; 11 ˗ Địa điểm kiểm tra tại khu vực kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; ˗ Địa điểm kiểm tra chung giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan nước láng giềng tại khu vực cửa khẩu đường bộ; ˗ Địa điểm khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định trong trường hợp cần thiết.