CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC 1.Lí luận chung về dự án đầu tư 1.1 Khái niệm Đã có khá nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư khi nhìn nhận trên từng phương diện khác nhau. Theo nghĩa rộng nói chung, đầu tư là sự hi sinh các nguồn lực ở thời điểm hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu lại cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Các kết quả ở đây có thể lượng hoá được mà cũng có thể không lượng hoá được. Đối với các doanh nghiệp hiểu đơn giản đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai.
Trên quan điểm xã hội, đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Tuy nhiên dù là đứng trên phương diện nào đầu tư có thể hiểu đơn giản là đem một khoản tiền của đã tích luỹ được, sử dụng vào việc nhất định để sau đó thu lại một khoản tiền của có giá trị hơn. Vốn đầu tư bao gồm các dạng sau: - Tiền tệ các loại - Hiện vật hữu hình: Tư liệu sản xuất, tài nguyên… - Hàng hoá vô hình: Sức lao động, công nghệ, thông tin… - Các phương tiện đặc biệt khác: cổ phiếu, hối phiếu… Nguyễn Mai Lan Lớp: Kinh tế phát triển 47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 Hoạt động đầu tư có hai đặc trưng cơ bản là: tính sinh lời và thời gian kéo dài. Trong đó tính sinh lời là đặc trưng hàng đầu của đầu tư.
Việc sử dụng tiền vốn không gì khác là nhằm mục đích thu lại một khoản lợi ích có giá trị lớn hơn. Đặc trưng thứ hai của đầu tư là tính kéo dài về thời gian, thường là từ 2 năm đến 70 năm hoặc cũng có thể là lâu hơn. Đặc điểm này cho phép phân biệt hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh. Trong khi đầu tư và kinh doanh thống nhất với nhau ở tính sinh lời thì lại khác nhau ở thời gian thực hiện.
Phân loại đầu tư Đầu tư ở đây có thể được phân theo nhiều loại tuỳ thuộc vào mục đích, nội dung nghiên cứu. Theo tiêu thức mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư vào đội tượng bỏ vốn, đầu tư chia thành 3 loại: - Đầu tư gián tiếp: Là đầu tư mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn không phải là một. Với phương thức này, người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý kinh doanh. - Cho vay ( tín dụng): Đây là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay kiếm lời qua lãi suất cho vay.
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư mà trong đó người bỏ vốn và người sử dụng là một chủ thể. Đầu tư trực tiếp lại có thể được chia thành đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Đầu tư dịch chuyển là hình thức đầu tư mà trong đó người bỏ vốn mua lại một số cổ phần đủ lớn để nắm được quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Trong hình thức này, chỉ có sự thay đổi về quyền sở hữu tài sản dịch chuyển từ tay người này sang tay người khác, không có sự gia tăng tài sản doanh nghiệp.
Nguyễn Mai Lan Lớp: Kinh tế phát triển 47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trong đó tạo dựng những năng lực mới ( về lượng hay chất ) cho các hoạt động sản xuất, dịch vụ để làm phương tiện sinh lời. Đầu tư phát triển có vị trị đặc biệt quan trọng, nó là biểu hiện cụ thể của tái sản xuất mở rộng, là biện pháp chủ yếu để cung cấp việc làm cho người lao động, là tiền để thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư dịch chuyển. Đầu tư phát triển cũng có nhiều hình thức như thiết lập cơ sở mới, mở rộng cơ sở sẵn có, đổi mới công nghệ… Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên để này thuật ngữ đầu tư được hiểu là đầu tư phát triển 1. Khái niệm Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định ( Quy chế đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định 152/1999/NĐ-CP của Chính phủ) Ngân hàng thế giới lại đưa ra định nghĩa “ Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và các chi phí liên quan được hoạch định một cách có bài bản nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, trong một thời hạn xác định”.
Trong chuyên đề này, về mặt nôi dung có thể hiểu dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định.Như vậy một dự án đầu tư sẽ bao gồm những yếu tố cơ bản sau: Nguyễn Mai Lan Lớp: Kinh tế phát triển 47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 - Các mục tiêu của dự án: Là những kết quả và lợi ích mà dự án đem lại cho nhà đầu tư và xã hội. - Các hoạt động (các giải pháp về tổ chức kinh tế, kỹ thuật) để thực hiện được những mục tiêu của dự án. - Các nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động của dự án và chi phí về các nguồn lực đó. - Thời gian và địa điểm cần thực hiện các hoạt động của dự án.
- Các nguồn vốn đầu tư để tạo nên vốn đầu tư của dự án. - Các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra của dự án. Từ các định nghĩa khái quát về dự án như trên, đến nay dự án đã được dung rất rộng rãi và phổ biến cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Với mỗi một lĩnh vực, dự án sẽ được cụ thể hoá một cách chi tiết hơn cho phù hợp với đặc điểm riêng có của lĩnh vực đó.
Tuy nhiên, tính chất chung vốn có của dự án thì vẫn tồn tại và được thể hiện rõ nét ở tất cả các lĩnh vực. Đặc điểm của dự án đầu tư Dự án có những đặc điểm cơ bản sau -Dự án có tính thống nhất: Dự án là một thực thể độc lập trong một môi trường xác định với các giới hạn nhất định về quyền hạn và trách nhiệm. - Dự án phải có tính xác định: Dự án được xác định rõ rang về mục tiêu đạt được, thời hạn bắt đầu và thời hạn kết thúc cũng như nguồn lực cần có với một số lượng, cơ cấu, chất lượng và thời điểm giao nhận. - Dự án có tính logic: Tính logic của dự án được thể hiện ở mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận cấu thành dự án.
Một dự án thường có 4 bộ phận sau: Nguyễn Mai Lan Lớp: Kinh tế phát triển 47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 + Mục tiêu của dự án. Một dự án thường có 2 cấp mục tiêu: mục tiêu phát triển và mục tiêu trực tiếp. + Kết quả của dự án là những đầu ra cụ thể của dự án được tạo ra từ các hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án.
+ Các hoạt động của dự án là những công việc do dự án tiến hành nhằm chuyển hoá các nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động đều đem lai kết quả tương ứng. + Nguồn lực cho dự án là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao động cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Nguồn lực là tiền đề tạo nên các hoạt động của dự án.
Bốn bộ phận trên của dự án có quan hệ chặt chẽ với nhau: Nguồn lực của dự án được sử dụng tạo nên các hoạt động của dự án. Các hoạt động tạo nên các kết quả (đầu ra ). Các kết quả là điều kiện cần thiết để đạt được mục tiêu trực tiếp của dự án. Đạt được mục tiêu trực tiếp là tiền đề góp phần đạt được mục tiêu phát triển.
Phân loại dư án đầu tư Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân loại dự án theo các tiêu thức khác nhau. Theo tính chất của dự án, người ta chia thành các loại: dự án sản xuất kinh doanh, dự án phát triển kinh tế xã hội, dự án chuyển giao công nghệ, dự án nhân đạo. Phân loại theo nguồn vốn đầu tư có: dự án đầu tư bằng nguồn vốn trong nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn ODA, vốn đầu tư của Chính phủ, vốn của khu vực tư nhân, vốn liên doanh, cổ phần. Nguyễn Mai Lan Lớp: Kinh tế phát triển 47B Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8 Nếu phân loại theo ngành lĩnh vực đầu tư, có dự án thuộc ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, kết cấu hạ tầng, dịch vụ.v… Trong chuyên đề này, việc phân loại dự án đầu tư sẽ dựa trên phân cấp quản lý của Nhà nước, đã được quy định trong Nghị định số 112/2006/ NĐ- CP ngày 29/09/2006 của Chính phủ đã phân dự án thành 3 nhóm.
- Dự án nhóm A: + các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh quốc phòng có tính bảo mật quốc gia, có ý nghĩa chính trị, xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầng khu công nghiệp mới (không phụ thuộc quy mô vốn đầu tư). + Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất chất độc hại, chất nổ, hạ tầng khu công nghiệp (không phụ thuộc vào quy mô đầu tư). + Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây dựng khu nhà ở. + Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông, cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính, viễn thông ( trên 1.