trêng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n khoa kÕ to¸n ------ chuyªn ®Ò thùc tËp chuyªn ngµnh §Ò tµi: hoµn thiÖn quy tr×nh kiÓm to¸n thuÕ gi¸ trÞ gia t¨ng trong kiÓm to¸n b¸o c¸o tµI chÝnh do c«ng ty tnhh dÞch vô t vÊn tµI chÝnh kÕ to¸n vµ kiÓm to¸n (aasc) thùc hiÖn Sinh viªn thùc hiÖn : Vò ThÞ Hång Hµ MSSV : CQ490650 Chuyªn ngµnh : KiÓm to¸n Khãa : 49 Gi¸o viªn híng dÉn : PGS. §inh Träng Hanh Hµ Néi, 05/2011 Chuyên đề thực tập chuyên ngành LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam hiện nay đang là một trong những quốc gia hàng đầu về thu hút đầu tư trên thế giới và là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực Đông Nam Á. Hơn bao giờ hết, vấn đề minh bạch trong hoạt động kinh doanh trở thành một yếu tố quyết định để thu hút đầu tư và phát triển kinh tế. Chính vì vậy, hoạt động kiểm toán ngày nay trở thành nhu cầu thiết yếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý của mọi loại hình doanh nghiệp. Kiểm toán không chỉ tạo niềm tin cho người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp mà còn hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nề nếp hoạt động tài chính, kế toán, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các đơn vị được kiểm toán. Mục tiêu hướng tới chung nhất của mỗi cuộc kiểm toán là cung cấp bức tranh đầy đủ và xác thực nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp, ở đó từng đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp sẽ có yêu cầu khác nhau đối với từng phần hành từng khoản mục trên BCTC. Không nằm ngoài số đó, cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, đặc biệt trên giác độ quản lý kinh tế, việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước là mối quan tâm hàng đầu đối với các cơ quan quản lý nhà nước nói riêng và người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính nói chung. Vì thế phần hành kiểm toán thuế luôn một trong những khía cạnh chủ chốt của mỗi cuộc kiểm toán. Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán là một trong những công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán có chất lượng hàng đầu tại Việt Nam. Trong quá trình thực tập ở công ty, em đã tham gia thực hiện kiểm toán phần hành thuế Giá trị gia tăng (GTGT) cho một số doanh nghiệp và nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của việc hoàn thiện quy trình kiểm toán phần hành này. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán thuế Giá trị gia tăng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện” cho Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Mục đích nghiên cứu của Chuyên đề: Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy trình kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán báo cáo tài Vũ Thị Hồng Hà 1 Kiểm toán 49B Chuyên đề thực tập chuyên ngành chính, Chuyên đề hướng tới việc đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán thuế GTGT. Đối tượng nghiên cứu của Chuyên đề: Đối tượng nghiên cứu của Chuyên đề là lý luận về kiểm toán báo cáo tài chính, quy trình thực hiện kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán báo cáo tài chính và thực trạng thực hiện tại AASC. Chuyên đề thực hiện phương pháp nghiên cứu chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử bên cạnh các phương pháp khác nhau là tổng hợp, phân tích, nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn,… Phạm vi nghiên cứu của Chuyên đề: Em nghiên cứu chuyên đề này trong thời gian thực tập bốn tháng tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) và thực tiễn hoạt động kiểm toán thuế GTGT tại hai khách hàng ABC và XYZ. Trong đó, Em chỉ đề cập đến cách tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ do kiểm toán độc lập thực hiện. Ngoài Mục lục, Danh mục sơ đồ, bảng biểu, Danh mục tài liệu tham khảo, Phần mở đầu và Phần kết luận và Phụ lục, Chuyên đề của em gồm có ba chương: Chương I: Lý luận chung về thuế Giá trị gia tăng và kiểm toán thuế Giá trị gia tăng trong kiểm toán báo cáo tài chính Chương II: Thực trạng kiểm toán thuế Giá trị gia tăng trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) Chương III: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán thuế Giá trị gia tăng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện Đây là một nội dung lớn, phức tạp, là mối quan tâm của tất cả các Công ty kiểm toán. Do hạn chế về thời gian cũng như trình độ, bản Chuyên đề không thể tránh khỏi thiếu sót. Để hoàn thành Chuyên đề này, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo PGS.TS Đinh Trọng Hanh và các anh chị, nhân viên Phòng Kiểm toán 2 cũng như toàn thể cán bộ nhân viên Công ty. Em rất mong sẽ nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, các anh chị trong Công ty để Chuyên đề được hoàn thiện hơn. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo và các anh chị trong Công ty! Vũ Thị Hồng Hà 2 Kiểm toán 49B Chuyên đề thực tập chuyên ngành CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ KIỂM TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Đặc điểm thuế Giá trị gia tăng ảnh hưởng đến kiểm toán báo cáo tài chính 1.1 Khái quát chung về thuế Giá trị gia tăng 1.1 Nguồn gốc và khái niệm thuế Giá trị gia tăng Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu trong thời kì đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Thuế GTGT được đề cập lần đầu tiên trong tác phẩm về “Cải tổ hệ thống thuế” của nhà kinh tế Mĩ là Chao, vào năm 1947. Pháp là nước đầu tiên áp dụng và triển khai thuế GTGT. Lúc đầu thuế GTGT chỉ được áp dụng trước đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu chồng chéo qua nhiều khâu trong ngành công nghiệp với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ được khấu trừ thuế ở khâu trước với nguyên liệu, vật liệu. Quá trình thống nhất hoá Châu Âu được thúc đẩy vào những năm 1950 đã có tác dụng thuận lợi để thuế GTGT được triển khai nhanh chóng ở các nước khác. Năm 1986, thuế GTGT ở Pháp được áp dụng rộng rãi với tất cả các hình thức, ngành nghề từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ. Khai sinh từ nước Pháp thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới và trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước (NSNN). Ở nước ta, sau nhiều năm nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước, Quốc hội khoá IX, kì họp thứ XI (tháng 5 năm 1997) đã chính thức thông qua Luật thuế GTGT để thay thế cho Luật thuế doanh thu, Luật thuế này có hiệu lực từ 1/1/1999. Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, có thể nói Luật thuế GTGT của chúng ta đã phần nào theo kịp sự phát triển của nền kinh tế nước nhà. Đặc biệt nó đã trở thành một trong những loại thuế hiện đại và được áp dụng một cách khá hoàn chỉnh ở Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng như thuế doanh thu. Tuy nhiên thuế GTGT có điểm khác cơ bản với thuế doanh thu là sản phẩm hàng hoá, dù qua nhiều khâu hay ít khâu, từ sản xuất đến tiêu dùng đều chịu thuế như nhau, chỉ người bán hàng hoá, dịch vụ lần đầu phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ Vũ Thị Hồng Hà 3 Kiểm toán 49B Chuyên đề thực tập chuyên ngành doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ, những người bán hàng ở những khâu tiếp theo đối với hàng hoá đó chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm. Đó chính là lý do vì sao sắc thuế này có tên gọi là thuế GTGT, viết tắt là VAT theo tên tiếng Anh (Value Added Tax). Thuế GTGT là sắc thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng cuối cùng. Đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Tóm lại, có thể hiểu rằng, bản chất của thuế GTGT là “Thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (theo Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 và Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ban hành ngày 10/12/2003). Trong đó, GTGT là khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.2 Vai trò của thuế Giá trị gia tăng trong nền kinh tế quốc dân Từ kì họp khóa VIII và khóa IX Quốc hội đã lần lượt ban hành hệ thống thuế cho phù hợp với cơ chế quản lý đất nước. Đây là mốc khởi đầu cho quá trình cải cách thuế ở nước ta. Giai đoạn cải cách thuế bước I (1990-1996) chúng ta đã xây dựng được một hệ thống thuế tương đối hoàn chỉnh gắn với sự ra đời của thuế Doanh thu. Tuy nhiên, theo sự vận động và phát triển của nền kinh tế, hệ thống thuế Doanh thu đã bộc lộ nhiều hạn chế đòi hỏi Quốc hội, Chính phủ phải chỉ đạo một cuộc cải cách thuế bước II gắn liền với sự ra đời của thuế GTGT nhằm đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước. Thuế GTGT đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, thể hiện qua một số đặc điểm chính sau: Thứ nhất, Thuế GTGT là nguồn thu lớn cho NSNN, thu nội bộ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN tạo nên một nền tài chính quốc gia vững mạnh. Trong tổng thu nội bộ nguồn thu từ thuế luôn chiếm phần chủ yếu.
Khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện quy trình kiểm toán thuế giá trị gia tăng
Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp kiểm toán phần hành thuế, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ thể cho vấn đề toán học.
Trường đại học
Trường đại học kinh tế quốc dânChuyên ngành
Kế toánNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Chuyên đề thực tập chuyên ngànhPhí lưu trữ
35 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Vũ Thị Hồng Hà
Người hướng dẫn: PGS. Đinh Trọng Hanh
Trường học: Trường đại học kinh tế quốc dân
Chuyên ngành: Kế toán
Đề tài: Hoàn thiện quy trình kiểm toán thuế giá trị gia tăng trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện
Loại tài liệu: Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Năm xuất bản: 2011
Địa điểm: Hà Nội
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ