CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ KIỂM TOÁN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Đặc điểm thuế Giá trị gia tăng ảnh hưởng đến kiểm toán báo cáo tài chính 1.1 Khái quát chung về thuế Giá trị gia tăng 1.1 Nguồn gốc và khái niệm thuế Giá trị gia tăng Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu trong thời kì đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Thuế GTGT được đề cập lần đầu tiên trong tác phẩm về “Cải tổ hệ thống thuế” của nhà kinh tế Mĩ là Chao, vào năm 1947. Pháp là nước đầu tiên áp dụng và triển khai thuế GTGT. Lúc đầu thuế GTGT chỉ được áp dụng trước đối với ngành sản xuất, chủ yếu nhằm hạn chế việc thu chồng chéo qua nhiều khâu trong ngành công nghiệp với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ được khấu trừ thuế ở khâu trước với nguyên liệu, vật liệu.
Quá trình thống nhất hoá Châu Âu được thúc đẩy vào những năm 1950 đã có tác dụng thuận lợi để thuế GTGT được triển khai nhanh chóng ở các nước khác. Năm 1986, thuế GTGT ở Pháp được áp dụng rộng rãi với tất cả các hình thức, ngành nghề từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ. Khai sinh từ nước Pháp thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới và trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước (NSNN). Ở nước ta, sau nhiều năm nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các nước, Quốc hội khoá IX, kì họp thứ XI (tháng 5 năm 1997) đã chính thức thông qua Luật thuế GTGT để thay thế cho Luật thuế doanh thu, Luật thuế này có hiệu lực từ 1/1/1999.
Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, có thể nói Luật thuế GTGT của chúng ta đã phần nào theo kịp sự phát triển của nền kinh tế nước nhà. Đặc biệt nó đã trở thành một trong những loại thuế hiện đại và được áp dụng một cách khá hoàn chỉnh ở Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới. Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, một yếu tố cấu thành trong giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng như thuế doanh thu. Tuy nhiên thuế GTGT có điểm khác cơ bản với thuế doanh thu là sản phẩm hàng hoá, dù qua nhiều khâu hay ít khâu, từ sản xuất đến tiêu dùng đều chịu thuế như nhau, chỉ người bán hàng hoá, dịch vụ lần đầu phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ Vũ Thị Hồng Hà 3 Kiểm toán 49B Chuyên đề thực tập chuyên ngành doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ, những người bán hàng ở những khâu tiếp theo đối với hàng hoá đó chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm.
Đó chính là lý do vì sao sắc thuế này có tên gọi là thuế GTGT, viết tắt là VAT theo tên tiếng Anh (Value Added Tax). Thuế GTGT là sắc thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng cuối cùng. Đến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng. Tóm lại, có thể hiểu rằng, bản chất của thuế GTGT là “Thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (theo Luật thuế GTGT số 02/1997/QH9 và Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ban hành ngày 10/12/2003).
Trong đó, GTGT là khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.2 Vai trò của thuế Giá trị gia tăng trong nền kinh tế quốc dân Từ kì họp khóa VIII và khóa IX Quốc hội đã lần lượt ban hành hệ thống thuế cho phù hợp với cơ chế quản lý đất nước. Đây là mốc khởi đầu cho quá trình cải cách thuế ở nước ta. Giai đoạn cải cách thuế bước I (1990-1996) chúng ta đã xây dựng được một hệ thống thuế tương đối hoàn chỉnh gắn với sự ra đời của thuế Doanh thu. Tuy nhiên, theo sự vận động và phát triển của nền kinh tế, hệ thống thuế Doanh thu đã bộc lộ nhiều hạn chế đòi hỏi Quốc hội, Chính phủ phải chỉ đạo một cuộc cải cách thuế bước II gắn liền với sự ra đời của thuế GTGT nhằm đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.
Thuế GTGT đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, thể hiện qua một số đặc điểm chính sau: Thứ nhất, Thuế GTGT là nguồn thu lớn cho NSNN, thu nội bộ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN tạo nên một nền tài chính quốc gia vững mạnh. Trong tổng thu nội bộ nguồn thu từ thuế luôn chiếm phần chủ yếu. Chính vì vậy, thuế trở thành công cụ phân phối, điều tiết thu nhập quốc dân, đồng thời góp phần tích cực giảm bội chi NSNN, giảm lạm phát và từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế lâu dài. Vũ Thị Hồng Hà 4 Kiểm toán 49B Chuyên đề thực tập chuyên ngành Thứ hai, Thuế GTGT góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Thuế GTGT được áp dụng thống nhất cho tất cả các thành phần kinh tế với những quy định cụ thể cho từng ngành nghề, lĩnh vực nhất là những lĩnh vực cần khuyến khích phát triển. Vậy nên, thuế GTGT góp phần tạo nên sự bình đẳng trong xã hội tiến tới sự phát triển kinh tế bền vững, lâu dài. Thứ ba, Thuế GTGT là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô. Thuế GTGT là hình thức thuế gián thu, khắc phục được hầu hết nhược điểm cố hữu của thuế Doanh thu, có khả năng điều tiết sản xuất, tiêu dùng, hạ giá thành và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khuyến khích và thúc đẩy xuất khẩu, tạo sự bình đẳng giữa hàng hóa, dịch vụ trong nước và ngoài nước.
Thứ tư, Thuế GTGT cho phép nhà nước kiểm soát quá trình kê khai nộp thuế, kiểm tra và thu thuế hiệu quả. Đây là loại thuế gián thu không chỉ khắc phục các hạn chế của thuế Doanh thu mà còn góp phần cắt giảm chi phí quản lý thuế cho nhà nước do có khả năng kích thích DN duy trì hệ thống chứng từ đầy đủ, tự kê khai và nộp thuế.3 Những quy định hiện hành về thuế Giá trị gia tăng Từ ngày 01/01/2009 luật Thuế GTGT mới – Luật 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008 chính thức được áp dụng thay thế cho Luật Thuế GTGT cũ – Luật ban hành 01/01/1999; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT số 07/2003/QH11; Bãi bỏ Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT số 57/2005/QH11. Sau mười năm thực hiện, Luật thuế GTGT mới sửa đổi luật cũ trên tinh thần đơn giản, rõ ràng hơn, phù hợp với tiêu chí quản lý thuế công khai, minh bạch cho người nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện. Không chỉ vậy, Luật thế GTGT mới ra đời còn đánh dấu sự phát triển mới về chính sách thuế GTGT của nước ta và điều chỉnh bao quát, đầy đủ lĩnh vực thuế GTGT nhất là trong mặt quản lý thuế.
Thứ nhất, Đối tượng chịu thuế: là loại thuế gián thu tính trên giá trị hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 (Đối tượng không chịu thuế) của Luật thuế GTGT. Luật thuế GTGT mới đã thu hẹp đối tượng không chịu thuế từ 28 nhóm hàng hóa, dịch Vũ Thị Hồng Hà 5 Kiểm toán 49B Chuyên đề thực tập chuyên ngành vụ xuống còn 25 nhóm so với Luật số 07/2003/QH11 ngày 17/06/2003 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT. Thứ hai, Người nộp thuế: là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (gọi tắt là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (gọi tắt là người nhập khẩu) (Điều 4 – Luật thuế GTGT năm 2009). Thứ ba, Căn cứ tính thuế: Thuế GTGT là thuế tính trên phần tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng.
Theo Luật thuế GTGT năm 2009, căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất. Trong đó: Giá tính thuế: Giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ được quy định như cụ thể cho từng nhóm hàng hóa, dịch vụ của từng hoạt động trong Điều 7 – Luật thuế GTGT năm 2009 (Phụ lục 1. Giá tính thuế). Thuế suất: Luật thuế GTGT năm 1997 quy định bốn mức thuế suất thuế GTGT thay vì 11 mức thuế suất như luật thuế Doanh thu trước đây.
Đó là các mức thuế 0%, 5%, 10%, 20%. Đến năm 2003 Luật thuế GTGT sửa đổi ban hành và Luật thuế GTGT mới năm 2009 quy định còn ba nhóm: 0%, 5%, 10%. Việc giảm thiểu các nhóm thuế suất có ưu điểm là làm đơn giản hơn việc áp dụng, tính thuế và nộp thuế cho các DN, cơ sở kinh doanh. Thứ tư, Phương pháp tính thuế: Theo luật thuế GTGT hiện hành, có hai phương pháp tính thuế GTGT, đó là tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp.
Tuy nhiên, các DN hiện nay thường áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ vì cách tính thuế này có nhiều ưu điểm và dễ tính hơn hẳn. Trong phạm vi của Chuyên đề này em chỉ đề cập đến cách tính thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ. Song để có thể so sánh được hai phương pháp, em vẫn giới thiệu những nét cơ bản khi tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp: Thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.