CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 1. Khái niệm quản trị sản xuất của doanh nghiệp 1. Khái niệm sản xuất Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra. Mục đích của quá trình chuyển hóa này là để tạo ra giá trị gia tăng cung cấp cho khách hàng.
Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn, kỹ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin. Đầu ra của quá trình chuyển đổi là sản phẩm, dịch vụ, tiền lương, những ảnh hưởng đối với môi trường.1: Quá trình sản xuất [7, tr.5] Hơn thế nữa, sản xuất còn bao hàm bất kỳ hoạt động nào nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Nó có thể phân thành: Sản xuất bậc-1; sản xuất bậc-2 và sản xuất bậc-3: - Sản xuất bậc-1: Là hình thức sản xuất phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc là những hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn (than, khoán sản, khí đốt. 6 - Sản xuất bậc-2: Là hình thức sản xuất, chế tạo, chế biến các loại nguyên liệu thô hoặc tài nguyên thiên nhiên thành hàng hóa.
Loại sản xuất này bao gồm cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành được dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp. - Sản xuất bậc-3: Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của con người. Quan niệm thông thường chỉ cho rằng những doanh nghiệp chế tạo, sản xuất các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể như sắt thép, ô tô, giầy dép,. mới gọi là các đơn vị sản xuất.
Còn lại những đơn vị khác không sản xuất các sản phẩm vật chất đều xếp vào loại các đơn vị phi sản xuất. Tuy nhiên với sự phát triển của kinh tế thị trường, quan niệm như vậy không còn phù hợp nữa.2] Theo quan niệm của kinh tế thị trường thì sản xuất chính là quá trình tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Vì vậy nhóm ngành kinh tế đã được chia ra làm ba ngành là Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ, cả ba ngành này đều tạo ra giá trị sản xuất cho xã hội. Luận văn này sẽ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất bậc 2, sản xuất công nghiệp.
Khái niệm quản trị sản xuất Quản trị sản xuất là một trong những chức năng cơ bản trong quản trị doanh nghiệp, nó tác động trực tiếp đến việc sử dụng hiệu quả nguồn lực, tái sản xuất doanh nghiệp cho đến việc cung cấp cho thị trường sản phẩm và dịch vụ chất lượng, đáp ứng nhu cầu biến đổi và hiệu quả kinh tế.1] Để có sản phẩm dịch vụ tốt các doanh nghiệp phải thực hiện 3 chức năng cơ bản: Sản xuất, tài chính và marketing. Mỗi chức năng hoạt động độc lập để đạt được mục tiêu chung là sinh lời và phát triển. Do đó quản trị sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Nếu quản trị tốt, ứng dụng các phương pháp quản trị khoa học thì sẽ tạo khả năng 7 sinh lời lớn cho doanh nghiệp.
Ngược lại nếu quản trị không tốt sẽ làm cho doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí có thể phá sản.2: Quản trị sản xuất [6, tr. Mục tiêu của quản trị sản xuất Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung đều nhằm mục đích sinh lời. Lợi nhuận tối đa là sự kỳ vọng, mục tiêu cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào khi đầu tư tiền của và sức lực vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Quản trị sản xuất đồng thời với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào, và cung cấp đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trường.
Vì vậy, mục tiêu tổng quát đặt ra là bảo đảm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu qủa nhất các yếu tố sản xuất. Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các mục tiêu cụ thể sau [1, tr.13]: - Bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng - Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra - Bảo đảm đúng dung lượng mong muốn của thị trường - Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ - Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao - Bảo đảm mối quan hệ qua lại tốt với khách hàng 8 Nhìn chung toàn bộ hoạt động quản trị sản xuất có mục đích làm biến đổi đồng thời 3 chỉ tiêu: Giảm mức dự trữ; tăng khối lượng bán hàng; giảm chi phí sản xuất. Các mục tiêu cụ thể này gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Vai trò của quản trị sản xuất đối với doanh nghiệp Quá trình sản xuất được quản lý tốt sẽ góp phần tiết kiệm được các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp nói chung [1, tr.
Công tác hoàn thiện quản trị sản xuất tạo tiềm năng to lớn cho việc gia tăng năng suất, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Quản trị sản xuất trong doanh nghiệp có những vai trò sau: - Góp phần bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng: Nghĩa là sản phẩm sản xuất ra phù hợp với tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật theo quy định, đồng thời phù hợp với nhu cầu khách hàng. Chất lượng có thể được đánh giá so với những tiêu chuẩn đặt ra từ bên ngoài doanh nghiệp, cũng có thể đặt ra từ chính doanh nghiệp, chất lượng và sự phù hợp cũng có thể được đánh giá với đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. - Giúp giảm thiểu chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra.
Điều này góp phần hạ giá thành sản phẩm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. - Quản trị sản xuất góp phần bảo đảm đúng dung lượng mong muốn của thị trường: Xét dung lượng tiêu thụ hàng hoá của thị trường phụ thuộc vào các yếu tố như: Sự phát triển của nền kinh tế, năng xuất sản xuất, tiếp thị và sự cạnh tranh. Vậy để sản xuất đúng dung lượng thị trường đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa nhà quản lý với các bộ phận phụ trách kinh doanh và sản xuất. - Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.
9 - Giúp xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao. Đó là khả năng sản xuất đáp ứng một cách linh hoạt đối với yêu cầu đa dạng của thị trường, điều này mở ra một mức độ mới của sự cạnh tranh. Tính linh hoạt trở thành một vũ khí cạnh tranh lợi hại trong sản xuất hiện đại. - Bảo đảm mối quan hệ qua lại tốt với khách hàng: Khách hàng là nhân tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, cần có chính sách dịch vụ khách hàng hợp lý và khoa học, xây dựng hệ thống và các phương pháp quản trị gọn nhẹ không có lỗi với khách hàng.
Nội dung của quản trị sản xuất trong doanh nghiệp 1. Dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm Dự báo nhu cầu sản phẩm là dự kiến, đánh giá nhu cầu tương lai các sản phẩm,giúp doanh nghiệp xác định được chủng loại và số lượng sản phẩm cần có trong tương lai. Kết quả dự báo nhu cầu sản phẩm là cơ sở cho việc đưa ra những quyết định về quy mô sản xuất,công nghệ sản xuất,quy trình sản xuất,các nguồn lực cần thiết.6] Đây là nội dung quan trọng đầu tiên, là xuất phát điểm của Quản trị sản xuất. Cần phải tìm hiểu, nghiên cứu tình hình thị trường và dự báo nhu cầu sản phẩm để trả lời câu hỏi cần sản xuất sản phẩm gì? Số lượng bao nhiêu? Vào thời điểm nào? Đây sẽ là căn cứ để xác định có nên sản xuất hay không nên sản xuất.
Nếu tiến hành sản xuất thì cần thiết kế hệ thống sản xuất như thế nào để đảm bảo thỏa mãn được nhu cầu đã dự báo một cách tốt nhất?. Tất cả các hoạt động thiết kế, hoạch định và tổ chức điều hành hệ thống sản xuất đều phải căn cứ vào dữ liệu dự báo và nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm trên thị trường.12] Đối với công việc này vai trò của nhà quản trị là phải đưa ra các quyết định liên quan đến những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Để cho các quyết định có độ tin cậy và hiệu quả cao thì cần phải tiến hành công tác dự báo. 10 Điều này lại càng quan trọng hơn trong nền kinh tế thị trường, thường xuyên cạnh tranh.
Căn cứ vào thời đoạn dự báo: - Dự báo ngắn hạn: thời gian dự báo thường không quá 3 tháng. Công cụ dự báo này cần cho việc mua sắm, phân giao nhiệm vụ, điều độ công việc, cân đối các mặt trong quản trị tác nghiệp. - Dự báo trung hạn: thời đoạn dự báo thường từ 3 tháng đến 3 năm. Loại dự báo này cần cho việc thiết lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng, dự trù tài chính tiền mặt và làm căn cứ cho các loại kế hoạch khác.
- Dự báo dài hạn (trên 3 năm): loại dự báo này cần cho việc lập các dự án sản xuất sản phẩm mới, lựa chọn các dây chuyền công nghệ, thiết bị mới [1, tr. Căn cứ vào nội dung công việc cần dự báo: - Dự báo kinh tế. - Dự báo kỹ thuật công nghệ. - Dự báo nhu cầu.
Trong đó dự báo nhu cầu được nhà quản trị sản xuất đặc biệt quan tâm vì thông qua đó các nhà doanh nghiệp sẽ xác định được chủng loại và số lượng sản phẩm, dịch vụ cần tạo ra trong tương lai. Từ đó doanh nghiệp sẽ quyết định được quy mô sản xuất, hoạt động của công ty, là cơ sở để dự kiến về tài chính, tiếp thị, nhân sự. Lập kế hoạch các nguồn lực Lập kế hoạch các nguồn lực bao gồm việc xác định kế hoạch tổng hợp về nhu cầu sản xuất trên cơ sở đó lập kế hoạch về nguồn lực sản xuất nói chung và kế hoạch bố trí lao động, sử dụng máy móc, thiết bị, kế hoạch chi tiết về mua sắm nguyên vật liệu. Nhằm đảm bảo việc sản xuất diễn ra thường xuyên liên tục với chi phí thấp nhất.