LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tại Việt Nam trong những năm vừa qua, cùng với việc phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, cơ khí là được xem ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò và vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trong chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn tới năm 2035, ngành cơ khí được quy hoạch để phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu; đội ngũ lao động có kỷ luật và có năng suất cao, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm cơ khí; cơ bản đáp ứng nhu cầu sản phẩm cơ khí của thị trường trong nước (Thủ tướng chính phủ, 2014). Các sản phẩm cơ khí trọng điểm được tập trung khai thác, phát huy tốt nhất tiềm năng để đáp ứng các yêu cầu cơ bản của công cuộc phát triển đất nước.
Đồng thời, chiến lược cũng chú trọng tăng cường năng lực tự nghiên cứu, chế tạo, đẩy mạnh việc tiếp thu, ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến, nâng cao năng lực của ngành cơ khí nhằm tạo nhiều sản phẩm cơ khí có khả năng cạnh tranh cao. Có thể thấy, ngành cơ khí Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khả quan trong thời gian qua. Năm 2015 cả nước có khoảng trên 25.000 doanh nghiệp sản xuất cơ khí, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm cơ khí đạt trên 16 tỷ đô la. Ngành cơ khí tạo ra hơn một triệu việc làm, chiếm gần 16% tổng số lao động trong các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo (Bộ Công thương, 2015).
Nhiều sản phẩm đã tự sản xuất thay thế nhập khẩu. Dây chuyền sản xuất trong các nhà máy đã được đồng bộ, các doanh nghiệp đã làm chủ được một số công nghệ. Tỷ lệ nội địa hóa dần được nâng cao. Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành cơ khí còn có một số yếu kém và hạn chế.
Việc triển khai cơ chế chính sách phát triển ngành còn chậm và thiếu nhất quán; vai trò quản lý, đề xuất cơ chế chính sách phát triển ngành cơ khí của các cơ quan quản lý nhà nước chưa được phát huy; vai trò và tính chủ động của các hiệp hội còn yếu. Trong khi đó, các doanh nghiệp cơ khí nội địa có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp, chưa làm chủ được công nghệ lõi hoàn chỉnh. Chất lượng sản phẩm chưa tốt, giá thành sản phẩm cao, từ đó tính cạnh tranh của sản phẩm kém, chưa đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu. Việc đầu tư trong ngành luan an 2 cơ khí còn ít và phân tán, khép kín trong từng doanh nghiệp; thiếu sự phối hợp, phân công lao động giữa các doanh nghiệp trong ngành, chưa chủ động tham gia hợp tác, hội nhập quốc tế; tính chuyên môn hóa trong sản xuất thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm còn hạn chế, chi phí sản xuất cao, khả năng cạnh tranh thấp.
Ngành công nghiệp hỗ trợ cơ khí phát triển rất chậm, năng lực nghiên cứu – thiết kế còn hạn chế. Mục tiêu đáp ứng 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí cho cả nước chưa hoàn thành, toàn ngành cơ khí mới chỉ đáp ứng được khoảng 32 % nhu cầu (Bộ Công thương, 2016). Để khắc phục những mặt tồn tại và hạn chế, Việt Nam cần tập trung nguồn lực phát triển ngành cơ khí trở thành một ngành công nghiệp chủ chốt, góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh sự quản lý của nhà nước, sự phối hợp hoạt động của các Bộ, ngành liên quan, bản thân các doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng được một hệ thống quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp và hiện đại, phát huy được thế mạnh của doanh nghiệp, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường nhằm đạt được kết quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) cao và bền vững.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp cơ khí nói riêng, kết quả HĐKD là thước đo chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức, quản trị kinh doanh và vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Ngoài những thước đo về tài chính như tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, kết quả HĐKD còn thể hiện ở việc cắt giảm chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm thực hiện, mức độ hài lòng của khách hàng, mức độ giao hàng đúng hạn, số lượng sản phẩm khuyết tật, máy móc hư hỏng… Muốn nâng cao kết quả HĐKD, doanh nghiệp cần phải chủ động, sáng tạo, phát triển những thuận lợi, đồng thời hạn chế khó khăn để tạo ra môi trường hoạt động có lợi cho mình. Để làm được điều này, trước hết, doanh nghiệp cần phải khai thác và vận dụng những điều kiện và yếu tố thuận lợi của môi trường bên ngoài, đồng thời cần chủ động tạo ra những điều kiện, yếu tố có lợi cho bản thân mình để phát triển. Cụ thể, doanh nghiệp cần phải xác định được các yếu tố quản trị sản xuất (QTSX) trong doanh nghiệp có tác động đáng kể đến kết quả HĐKD của doanh nghiệp mình, đầu tư và ưu tiên nguồn lực vào các yếu tố đó, đồng thời tìm cách khắc phục những hạn chế còn tồn tại.
Cả hai phương diện này cần phối hợp luan an 3 đồng bộ mới giúp doanh nghiệp tận dụng được tối đa các nguồn lực, hoạt động sản xuất kinh doanh mới đạt hiệu quả tối ưu. Thế kỉ 20 đã chứng kiến sự xuất hiện và phát triển không ngừng của những cải tiến, sáng kiến kỹ thuật, các mô hình và phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến như mô hình Đúng lúc – kịp thời (Just-in-time - JIT), mô hình Quản lý chất lượng toàn diện (Total quality management - TQM), mô hình Duy trì năng suất tổng thể (Total productive maintenance – TPM), ma trận Quy trình sản xuất sản phẩm (Product process matrix), Công nghệ quy trình sản xuất (Process technology), phát triển sản phẩm mới (Product development). Các doanh nghiệp sản xuất ở các nước tiên tiến Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Ý v.v… đã không ngừng áp dụng các yếu tố quản trị từ các mô hình này. Trong số các mô hình đã áp dụng, các doanh nghiệp đã xác định được các yếu tố cốt lõi làm tăng trưởng kết quả HĐKD của mình và triển khai áp dụng một cách triệt để.
Với kết quả kinh doanh hết sức thuyết phục và thành công, các doanh nghiệp này đã mang đến những bài học kinh nghiệm quý báu và trở thành hình mẫu cho bất cứ các doanh nghiệp sản xuất nào trên thế giới. Việc xác định các yếu tố QTSX cốt lõi đã được nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu và tiến hành khảo sát việc áp dụng chúng tại các doanh nghiệp ở nhiều nước như Mỹ, Nhật, Anh, Ý, Pháp. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, doanh nghiệp không thể đạt được kết quả HĐKD cao khi chỉ áp dụng một mô hình quản trị nào đó. Ngược lại, các doanh nghiệp cần thực hiện áp dụng kết hợp đồng thời các yếu tố tổ chức sản xuất, quản trị chất lượng và các yếu tố nền tảng chung cho vận hành doanh nghiệp kết quả HĐKD cao và bền vững.
Đồng thời, các nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết về sự phù hợp (Fit theory), lý thuyết dựa vào nguồn lực (Resource – based theory) và lý thuyết ngữ cảnh (Contingency theory), và nhấn mạnh rằng, ở mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề tại các nước khác nhau thì các yếu tố quản trị cốt lõi tác động tới kết quả HĐKD có thể khác nhau. Chính vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu tại một ngành cụ thể ở một nước là hướng nghiên cứu mở rộng. Trong bối cảnh của các doanh nghiệp cơ khí tại Việt Nam hiện nay, việc xác định các yếu tố quản trị sản xuất cốt lõi tác động tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết và có ý nghĩa, cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, các công trình nghiên cứu chung về doanh nghiệp cơ khí và mảng sản xuất của luan an 4 các doanh nghiệp này là rất hiếm, và nếu có đều chỉ tập trung ở một mảng hoạt động của quản trị sản xuất như giữ gìn vệ sinh nơi làm việc (5S), cải tiến liên tục (Kaizen), quản trị chất lượng, mà chưa có một nghiên cứu tổng thể và có hệ thống về quản trị sản xuất.
Do đó, việc hệ thống hóa một các đầy đủ cơ sở lý thuyết về các yếu tố quản trị sản xuất cốt lõi tác động tới kết quả hoạt động kinh doanh sẽ cung cấp các kiến thức đầy đủ và sâu hơn về quản trị sản xuất cho doanh nghiệp. Về thực tiễn, do hạn chế về mặt nguồn lực, các doanh nghiệp cơ khí tại Việt Nam không thể đầu tư dàn trải mà cần tập trung áp dụng trước các yếu tố QTSX cốt lõi có tác động đến kết quả HĐKD, từ đó giúp họ nâng cao được kết quả HĐKD, khả năng và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu các yếu tố quản trị sản xuất cốt lõi tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cơ khí tại Việt Nam” làm đề tài luận án của mình. Tình hình nghiên cứu 2.1 Các nghiên cứu liên quan tới quản trị sản xuất và các yếu tố quản trị sản xuất trong doanh nghiệp 2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Sản xuất là một trong ba chức năng quan trọng nhất trong một doanh nghiệp sản xuất, đây là quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, lao động và bất cứ nguồn lực nào liên quan tới việc sản xuất sản phẩm) thành các yếu tố đầu ra (sản phẩm) nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.
Chính vì vậy, QTSX được xem là vấn đề xương sống trong doanh nghiệp sản xuất. Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu nổi tiếng về QTSX và tác nghiệp. Stevenson (2009) đã đưa ra định nghĩa về sản xuất, QTSX, vai trò của QTSX trong doanh nghiệp. Tác giả cũng bàn luận các vấn đề cụ thể trong QTSX, bao gồm: hoạch định chiến lược sản xuất, thiết kế sản phẩm và lựa chọn quy trình sản xuất, định vị và bố trí mặt bằng sản xuất, quản lý nhân lực trong sản xuất, quản trị hàng tồn kho và hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu, quản trị chất lượng.
Trong mỗi mảng hoạt động, tác giả đề cập tới các mô hình và phương pháp để quản trị chúng, nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tối đa.