Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập và môi trường kinh doanh biến động, công tác quản trị rủi ro đóng vai trò thiết yếu giúp doanh nghiệp chủ động dự báo, kiểm soát và giảm thiểu các tổn thất tiềm tàng, bảo đảm các kế hoạch hoạt động không bị gián đoạn. Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh là doanh nghiệp kết hợp cả hai chức năng sản xuất và trực tiếp kinh doanh các sản phẩm sứ vệ sinh, sứ mỹ nghệ. Tuy nhiên, hoạt động quản trị rủi ro tại đơn vị còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: công tác nhận dạng và phân tích rủi ro chưa được lập kế hoạch dài hạn và triển khai bài bản; việc đo lường, đánh giá rủi ro chưa đạt độ chính xác cao; các biện pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro chưa được thực hiện thường xuyên và đồng bộ. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Đoàn Thị Duyên đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh".
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung chính:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh trong giai đoạn 2012–2014.
- Xác định phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại công ty trong thời gian tới.
Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của khóa luận tập trung giải quyết: Doanh nghiệp đang đối mặt với những loại rủi ro trọng yếu nào? Quy trình nhận dạng, phân tích, kiểm soát và tài trợ rủi ro hiện tại đang được vận hành ra sao? Những hạn chế, nguyên nhân tồn tại là gì và cần những giải pháp quản trị nào để khắc phục?
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
- Không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh (Khu công nghiệp Tiền Hải, xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình).
- Thời gian: Dữ liệu thực trạng, số liệu tài chính và tình hình rủi ro được thu thập, phân tích trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014; các định hướng và giải pháp đề xuất áp dụng cho giai đoạn tiếp theo.
- Nội dung: Tập trung vào thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro (nhận dạng, phân tích, kiểm soát và tài trợ rủi ro) trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc tiếp cận các quan điểm khác nhau về rủi ro và quản trị rủi ro:
- Quan điểm bảo hiểm coi rủi ro là sự tổn thất ngẫu nhiên, khả năng xảy ra biến cố ngoài ý muốn.
- Quan điểm đầu tư tiếp cận rủi ro dưới góc độ không đạt được các chỉ tiêu tài chính kỳ vọng (NPV, IRR).
- Quan điểm truyền thống nhìn nhận rủi ro là thiệt hại, mất mát gắn liền với nguy hiểm, bất trắc.
- Quan điểm hiện đại xem rủi ro là khả năng xuất hiện cả kết quả có lợi hoặc không có lợi phát sinh từ một mối nguy hiểm hiện hữu.
Tác giả phân loại rủi ro kinh doanh thành: rủi ro thuần túy (rủi ro cá nhân, rủi ro tài sản, rủi ro pháp lý, rủi ro phát sinh từ sự phá sản của đối tác) và rủi ro suy đoán; đồng thời phân loại theo nguồn gốc phát sinh (môi trường kinh tế, chính trị - pháp luật, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng, tự nhiên, và nhận thức con người). Quy trình quản trị rủi ro chuẩn được hệ thống hóa gồm 4 khâu: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể:
| Phương pháp |
Quy mô / Đối tượng |
Nội dung và kỹ thuật thực hiện |
| Thu thập dữ liệu sơ cấp qua bảng hỏi |
52 phiếu phát ra, 52 phiếu thu về hợp lệ (100%) |
Bảng câu hỏi kết hợp trắc nghiệm, câu hỏi đóng và mở gửi đến cán bộ, công nhân viên toàn công ty; khảo sát mức độ ảnh hưởng của rủi ro, đánh giá quy trình QTRR; xử lý bằng Microsoft Excel. |
| Phỏng vấn trực tiếp & quan sát |
Lãnh đạo cấp cao và quản lý |
Gặp gỡ, phỏng vấn trực tiếp Giám đốc Tô Xuân Cảnh, trưởng các phòng ban chức năng, quản đốc các nhà máy và phân xưởng kết hợp quan sát quy trình tác nghiệp thực tế. |
| Thu thập dữ liệu thứ cấp |
Nội bộ & Bên ngoài |
Báo cáo tài chính các năm 2012, 2013, 2014; tài liệu thống kê từ Phòng Kế toán, Phòng Tổ chức - Hành chính, Phòng Kỹ thuật, Phòng Kinh doanh; các bài viết, ấn phẩm chuyên ngành. |
| Phương pháp phân tích dữ liệu |
Toàn bộ dữ liệu thu thập |
Thống kê mô tả, tổng hợp bảng biểu, phân tích định tính kết hợp so sánh số liệu chuỗi thời gian 3 năm liên tiếp (2012–2014). |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản trị rủi ro của doanh nghiệp thương mại
Chương này tổng kết các khái niệm nền tảng về rủi ro, rủi ro kinh doanh và quản trị rủi ro. Tác giả chỉ rõ quản trị rủi ro là một quá trình liên tục gắn bó mật thiết với quản trị chiến lược và quản trị tác nghiệp, giúp ổn định hoạt động, gia tăng độ an toàn, cắt giảm chi phí và nâng cao uy tín cho doanh nghiệp.
Về mặt nội dung, chương 1 chi tiết hóa quy trình 4 giai đoạn:
- Nhận dạng rủi ro: Xác định nguồn rủi ro (môi trường chung, môi trường đặc thù, môi trường nội bộ) và đối tượng rủi ro (tài sản hữu hình/vô hình, trách nhiệm pháp lý, nguồn nhân lực). Các phương pháp nhận dạng gồm lập bảng liệt kê, phân tích báo cáo tài chính, lưu đồ quy trình, thanh tra hiện trường, phân tích hợp đồng và nghiên cứu tổn thất quá khứ.
- Phân tích rủi ro: Nghiên cứu mối hiểm họa, phân tích nguyên nhân kỹ thuật và con người, tách bạch nguyên nhân chủ quan và khách quan, đo lường tổn thất trực tiếp/gián tiếp qua phương pháp thống kê kinh nghiệm, xác suất thống kê, chuyên gia.
- Kiểm soát rủi ro: Thực thi các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa rủi ro, giảm thiểu thiệt hại và quản trị dòng thông tin nội bộ.
- Tài trợ rủi ro: Cung cấp nguồn tài chính bù đắp tổn thất thông qua biện pháp tự khắc phục (trích lập quỹ dự phòng nội bộ) hoặc chuyển giao rủi ro (mua bảo hiểm, thỏa thuận hợp đồng).
Đồng thời, tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro gồm nhóm khách quan (môi trường tự nhiên, xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế, pháp luật) và nhóm chủ quan (năng lực, trình độ của nhà quản trị; năng lực của nhân viên; ý thức trách nhiệm nội bộ).
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro của Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh
Tác giả giới thiệu tổng quan về Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh: thành lập năm 2001 theo Giấy phép kinh doanh số 1000265248 tại KCN Tiền Hải (Thái Bình), quy mô 976 cán bộ công nhân viên, cơ cấu tổ chức theo chức năng gồm Ban Giám đốc (01 Tổng Giám đốc, 02 Giám đốc phụ trách), 5 phòng ban, 5 nhà máy và 3 phân xưởng phụ trợ (than hóa khí, cơ điện, khuôn mẫu). Sản phẩm sứ vệ sinh của công ty đạt tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008.
Khóa luận đánh giá tổng quát kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012–2014 qua các chỉ tiêu tài chính:
| Chỉ tiêu (Đơn vị: triệu đồng) |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Năm 2014 |
Tăng trưởng 2013/2012 (%) |
Tăng trưởng 2014/2013 (%) |
| Doanh thu thuần |
Số liệu nguồn |
Số liệu nguồn |
Số liệu nguồn |
107,09% |
110,45% |
| Giá vốn hàng bán |
Số liệu nguồn |
Số liệu nguồn |
Số liệu nguồn |
106,92% |
108,21% |
| Chi phí tài chính |
30.204 |
Số liệu nguồn |
Số liệu nguồn |
105,85% |
125,76% |
| Chi phí bán hàng |
172.125 |
Số liệu nguồn |
Số liệu nguồn |
107,29% |
114,86% |
| Chi phí quản lý doanh nghiệp |
76.486 |
Số liệu nguồn |
Số liệu nguồn |
109,61% |
127,35% |
| Lợi nhuận sau thuế |
8.107 |
9.214 |
11.954 |
113,40% (tăng 1.107 trđ) |
129,25% (tăng 2.740 trđ) |
(Ghi chú: Số liệu tổng hợp từ Báo cáo tài chính lưu tại Phòng Kế toán công ty).
Dựa trên kết quả điều tra 52 phiếu khảo sát, tác giả tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các rủi ro chính trong doanh nghiệp:
- Rủi ro nhân lực: 20/52 phiếu (chiếm 38,46%) – ảnh hưởng lớn nhất.
- Rủi ro trang thiết bị, cơ sở vật chất: 17/52 phiếu (chiếm 32,69%).
- Rủi ro ngành: 8/52 phiếu (chiếm 15,38%).
- Rủi ro hợp đồng kinh tế: 5/52 phiếu (chiếm 9,62%).
- Rủi ro khác: 2/52 phiếu (chiếm 3,85%).
Khóa luận chỉ ra các tổn thất thực tế:
- Rủi ro ngành và kỹ thuật sản xuất: Giá khí đốt năm 2014 tăng 17,65% trong khi nguồn cung thiếu hụt; trung bình mỗi năm có khoảng 12.000 sản phẩm sứ vệ sinh và 27.000 sản phẩm sứ mỹ nghệ bị hỏng ở các khâu tạo hình, phun men, nung.
- Rủi ro trang thiết bị: Tháng 7/2014, sự cố hở lò nung tại Nhà máy số 2 làm 3 công nhân bị thương nặng, thiệt hại chi phí khắc phục ước tính 250 triệu đồng.
- Rủi ro nhân sự: Giai đoạn 2012–2014 có 3 nhân viên hành chính xin thôi việc để tìm cơ hội thăng tiến và 27 công nhân xin nghỉ việc do không chịu nổi áp lực công việc nặng nhọc.
- Rủi ro hợp đồng: Năm 2012 thiệt hại hơn 700 triệu đồng do tranh chấp hợp đồng với Công ty TNHH MTV Trang trí Nội thất Hương Thảo; năm 2013 thiệt hại gần 180 triệu đồng do hàng hóa giao cho Cửa hàng Thúy Đằng (Ninh Bình) bị hỏng vỡ trong vận chuyển.
Về quy trình quản trị rủi ro tại công ty: 86,54% nhân sự xác nhận công ty có kế hoạch QTRR theo quy trình; 51,93% rủi ro bắt nguồn từ nội bộ; 67,31% rủi ro tập trung ở khâu sản xuất. Tỷ lệ đánh giá khâu thực hiện chưa tốt gồm: Nhận dạng rủi ro (30,77%), Tài trợ rủi ro (26,92%), Kiểm soát rủi ro (25,00%), Phân tích rủi ro (17,31%). Công ty đã ứng dụng phần mềm quản lý Misha và trích lập quỹ dự phòng rủi ro (năm 2013 lập 900.000 đồng, năm 2014 lập 800.000 đồng), song các gói bảo hiểm mua ngoài chỉ giới hạn ở bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tai nạn lao động cho công nhân, chưa có bảo hiểm cho hoạt động kinh doanh.
Chương 3: Đề xuất và kiến nghị về công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh
Tác giả nêu định hướng của Sứ Hảo Cảnh: tiếp tục phát triển mạng lưới phân phối (hiện có 24 đối tác miền Bắc, 11 đối tác miền Nam, 6 đối tác miền Trung, 20 đối tác quốc tế tại Lào, Campuchia, Myanmar, Nhật Bản, Cuba, Malaysia, Brunei, Algeria, Nigeria); mở rộng kho bãi diện tích gần 10.000 m2; nới lỏng chính sách thanh toán cho đại lý; nâng cao tay nghề người lao động.
Tác giả đề xuất 4 quan điểm chỉ đạo và 6 nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện cơ chế chính sách: Ban hành quy chế quản trị rủi ro bằng văn bản; thành lập Ban kiểm soát hoạt động độc lập; quy định trích lập và giải ngân quỹ dự phòng rủi ro minh bạch.
- Chính sách nhân sự: Chuẩn hóa quy trình tuyển dụng; tổ chức định kỳ các lớp tập huấn kỹ thuật và an toàn lao động; đẩy mạnh truyền thông nội bộ nâng cao nhận thức rủi ro của từng công nhân.
- Tăng cường công tác nhận dạng rủi ro: Đa dạng hóa phương pháp nhận dạng (kết hợp phân tích báo cáo tài chính hàng quý, rà soát hợp đồng, thanh tra hiện trường); duy trì họp giao ban hàng tuần tại các phân xưởng; theo dõi thông tin tổn thất của các doanh nghiệp cùng ngành.
- Nâng cao hiệu quả phân tích rủi ro: Thiết lập danh mục kiểm tra hiểm họa (checklist); tách bạch phân tích nguyên nhân chủ quan/khách quan; phân tích chi tiết dữ liệu tổn thất lịch sử để dự báo xu hướng.
- Xây dựng phương án kiểm soát, né tránh rủi ro: Thẩm định kỹ đối tác cung cấp nguyên liệu; bảo dưỡng định kỳ hệ thống lò nung và máy móc; trang bị đầy đủ bảo hộ lao động; lập phương án bốc xếp, vận chuyển chống va đập.
- Hoàn thiện công tác tài trợ rủi ro: Sử dụng lợi nhuận kinh doanh lập quỹ dự phòng dài hạn có quy mô tương xứng; mở rộng mua bảo hiểm hàng hóa vận chuyển và bảo hiểm tài sản nhà xưởng, chuyển giao rủi ro cho các công ty bảo hiểm chuyên nghiệp.
Khóa luận cũng đưa ra các kiến nghị đối với Nhà nước: hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh đồng bộ, minh bạch; ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính; phát huy vai trò thanh tra, kiểm tra của các bộ ngành chuyên trách; điều hành thị trường định hướng hội nhập ổn định.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã định lượng hóa và làm rõ bức tranh rủi ro toàn diện tại Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh thông qua số liệu khảo sát và dữ liệu tài chính 3 năm (2012–2014):
| Khía cạnh đánh giá |
Dữ liệu định lượng / Phát hiện thực tế tại Sứ Hảo Cảnh |
| Cơ cấu rủi ro doanh nghiệp |
Nhân lực chiếm 38,46%; Trang thiết bị chiếm 32,69%; Ngành chiếm 15,38%; Hợp đồng kinh tế chiếm 9,62%; Khác chiếm 3,85%. |
| Nguồn gốc & Giai đoạn rủi ro |
51,93% rủi ro từ nội bộ doanh nghiệp; 67,31% rủi ro xảy ra ở công đoạn sản xuất; 23,08% ở khâu mua nguyên vật liệu; 9,61% ở khâu kinh doanh. |
| Tổn thất vật chất & nhân lực |
12.000 sứ vệ sinh và 27.000 sứ mỹ nghệ hỏng/năm; sự cố nổ lò nung tháng 7/2014 gây thiệt hại 250 triệu đồng; tổn thất hợp đồng 700 triệu đồng (2012) và 180 triệu đồng (2013); 30 nhân sự nghỉ việc giai đoạn 2012–2014. |
| Phương pháp kiểm soát áp dụng |
Giảm thiểu rủi ro (36,54%), Phòng ngừa rủi ro (32,69%), Né tránh rủi ro (30,77%). |
| Đánh giá điểm nghẽn quy trình |
Nhận dạng rủi ro (30,77% đánh giá chưa tốt) và Tài trợ rủi ro (26,92% đánh giá chưa tốt) là hai khâu yếu kém nhất. |
Giải pháp và kiến nghị đề xuất
- Đề xuất mô hình quản trị rủi ro đồng bộ từ khâu lập chính sách, thành lập Ban kiểm soát chuyên trách đến xây dựng cơ chế báo cáo định kỳ theo tuần/tháng tại các nhà máy.
- Đưa ra giải pháp công nghệ kết hợp: duy trì và khai thác hiệu quả phần mềm Misha trong phân tích rủi ro, đồng thời chuẩn hóa hệ thống bảng kê nhận dạng rủi ro cho từng phân xưởng.
- Kiến nghị phương án tài trợ rủi ro kép: vừa xây dựng quỹ dự phòng rủi ro nội bộ dài hạn từ lợi nhuận giữ lại, vừa chuyển giao rủi ro qua hợp đồng bảo hiểm vận tải và bảo hiểm tài sản thương mại.
Đóng góp của khóa luận
Tác giả tự khẳng định đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh. Đề tài đóng góp hệ thống số liệu khảo sát thực tế có giá trị, phản ánh trung thực điểm mạnh, điểm yếu trong quản trị doanh nghiệp sản xuất gốm sứ; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng trực tiếp cho ban lãnh đạo công ty.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện nghiên cứu thực tế:
- Phạm vi khảo sát giới hạn trong 52 cán bộ công nhân viên tại một doanh nghiệp đơn lẻ (Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh), chưa mở rộng điều tra so sánh với các doanh nghiệp sản xuất gốm sứ khác trong Khu công nghiệp Tiền Hải hay trên địa bàn cả nước.
- Nguồn số liệu tài chính và tổn thất thứ cấp dừng lại trong khoảng thời gian 3 năm (2012–2014), chưa phản ánh được các biến động chu kỳ kinh tế dài hạn hơn.
- Công tác tài trợ rủi ro trong đề tài mới đề xuất ở mức khung nguyên tắc và giải pháp định hướng, chưa lượng hóa được mức trích lập tối ưu cụ thể cho từng hạng mục quỹ dự phòng do hạn chế về nguồn lực tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển theo hướng: mở rộng phạm vi khảo sát liên doanh nghiệp ngành sản xuất gốm sứ - vật liệu xây dựng; xây dựng bộ chỉ số cảnh báo rủi ro sớm (Key Risk Indicators - KRIs) chuyên biệt cho quy trình lò nung và vận chuyển sản phẩm dễ vỡ; thiết lập mô hình tính toán chi phí tài trợ rủi ro tối ưu kết hợp giữa bảo hiểm thương mại và quỹ dự phòng nội bộ.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp, Kinh doanh thương mại tại các trường đại học khối kinh tế đang thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc đề tài nghiên cứu về quản trị rủi ro doanh nghiệp.
- Cán bộ quản lý, chuyên viên phụ trách an toàn lao động và quản trị vận hành tại các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, gốm sứ mỹ nghệ, sản xuất cơ khí.
- Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm: cấu trúc bảng câu hỏi điều tra 52 mẫu khảo sát thực tế; số liệu thống kê chi tiết về tỷ lệ lỗi hỏng sản phẩm và rủi ro lò nung than hóa khí; kinh nghiệm kết hợp phần mềm Misha trong quản lý rủi ro tác nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Rủi ro nào có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đối với Công ty Sứ Hảo Cảnh theo kết quả khảo sát?
Theo kết quả khảo sát 52 cán bộ công nhân viên, rủi ro về nguồn nhân lực chiếm tỷ lệ ảnh hưởng cao nhất với 38,46% tổng số phiếu, tiếp theo là rủi ro về trang thiết bị và cơ sở vật chất (32,69%), rủi ro ngành (15,38%), rủi ro từ hợp đồng kinh tế (9,62%) và các rủi ro khác (3,85%).
2. Các sự cố rủi ro cụ thể đã gây ra những tổn thất gì cho công ty trong giai đoạn 2012–2014?
Văn bản ghi nhận các tổn thất cụ thể:
- Sự cố hở lò nung tại Nhà máy số 2 vào tháng 7/2014 làm 3 công nhân bị thương nặng, chi phí khắc phục ước tính khoảng 250 triệu đồng.
- Thiệt hại hơn 700 triệu đồng năm 2012 do tranh chấp và hủy hợp đồng giữa chừng với Công ty TNHH MTV Trang trí Nội thất Hương Thảo.
- Thiệt hại gần 180 triệu đồng năm 2013 do sự cố vận chuyển làm hỏng sản phẩm cung cấp cho Cửa hàng Thúy Đằng (Ninh Bình).
- Tổn thất định kỳ hàng năm do sản phẩm hỏng trong sản xuất khoảng 12.000 sản phẩm sứ vệ sinh và 27.000 sản phẩm sứ mỹ nghệ.
3. Khâu nào trong quy trình quản trị rủi ro bị đánh giá là thực hiện kém nhất tại doanh nghiệp?
Kết quả điều tra chỉ ra rằng khâu nhận dạng rủi ro bị đánh giá thực hiện chưa tốt nhiều nhất (30,77% số phiếu), tiếp đến là khâu tài trợ rủi ro (26,92%), kiểm soát rủi ro (25,00%) và phân tích rủi ro (17,31%).
4. Công ty Sứ Hảo Cảnh đã áp dụng công cụ công nghệ nào để hỗ trợ công tác quản trị rủi ro?
Doanh nghiệp sử dụng phần mềm quản lý Misha để tổng hợp dữ liệu toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ các nhà quản trị theo dõi quy trình làm việc của nhân viên, phát hiện sai sót và giảm thiểu rủi ro trong quá trình ra quyết định.
5. Thực trạng công tác tài trợ rủi ro tại công ty còn tồn tại những hạn chế cốt lõi nào?
Công tác tài trợ rủi ro còn mang tính chắp vá, bị động do nguồn vốn hạn hẹp; quỹ dự phòng trích lập còn nhỏ (năm 2013 lập 900.000 đồng, năm 2014 lập 800.000 đồng); công ty chỉ mới tham gia bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tai nạn lao động cho nhân viên, chưa tham gia các gói bảo hiểm tài sản, bảo hiểm hàng hóa kinh doanh lớn do thủ tục còn rườm rà.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đoàn Thị Duyên đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp thương mại và sản xuất, đồng thời phản ánh chân thực thực trạng quản trị rủi ro tại Công ty TNHH Sản xuất Kinh doanh Sứ Hảo Cảnh giai đoạn 2012–2014. Qua việc kết hợp phương pháp khảo sát 52 bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc và phân tích số liệu tài chính chuỗi 3 năm, đề tài đã chỉ rõ các điểm nghẽn trọng yếu trong nhận dạng, kiểm soát và tài trợ rủi ro tại doanh nghiệp. Các nhóm giải pháp hoàn thiện được xây dựng bám sát thực tiễn hoạt động của công ty, mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác quản trị rủi ro trong ngành sản xuất gốm sứ.