CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 1.1 Rủi ro đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về rủi ro Rủi ro là tình huống mà tại đó xảy ra những biến cố dẫn đến việc thu nhập của công ty bị sai lệch so với kỳ vọng, hoặc công ty bị thua lỗ hay thậm chí rơi vào tình trạng phá sản. Công ty luôn tìm cách né tránh rủi ro hay giảm rủi ro đến mức tối thiểu có thể trong mọi hoạt động kinh doanh của mình.2 Phân loại rủi ro Ở đây chúng ta phân rủi ro thành hai loại chính, đó là rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro hệ thống là một dạng rủi ro thuộc về bản chất gắn liền với mỗi ngành nghề kinh doanh nhất định, ngành nghề nào cũng có rủi ro kinh doanh thuộc về bản chất, hầu hết rủi ro kinh doanh không thể ph.ng ngừa được do “không thể mua đi bán lại được”. Rủi ro hệ thống là những rủi ro từ bên ngoài của một ngành công nghiệp hay của một doanh nghiệp, chẳng hạn như chiến tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế và chính trị.
Đa dạng hóa đầu tư cũng không thể loại bỏ loại rủi ro này. Những công ty chịu ảnh hưởng cao của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận và giá chứng khoán thường theo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến trên thị trường chứng khoán. Phần lớn các công ty trong những ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng, những ngành có định phí lớn chịu ảnh hưởng rất cao của rủi ro hệ thống, ví dụ ngành thép, cao su, xi măng. Trong phạm vi luận văn này tôi không tập trung nghiên cứu phần rủi ro hệ thống mà chủ yếu đi sâu vào rủi ro phi hệ thống.
Rủi ro phi hệ thống là một phần rủi ro đầu tư mà nhà đầu tư có thể loại bỏ được. Loại rủi ro này là kết quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một công ty hoặc một ngành công nghiệp nào đó. Các yếu tố này có thể là những biến động về lực lượng lao động, năng lực quản trị, kiện tụng hay chính sách điều tiết của chính phủ. Rủi ro phi hệ thống được chia làm hai loại chính là rủi ro kinh doanh và rủi ro kiệt giá tài chính.1 Rủi ro kinh doanh Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro liên quan đến những bất lợi của thị trường làm doanh thu giảm, hậu quả là lợi nhuận trước thuế giảm hay thậm chí bị lỗ.
Rủi ro do bản chất kinh doanh. Hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối mặt với rủi ro kinh doanh liên quan đến bản chất ngành nghề sản xuất kinh doanh. Đó là dạng rủi ro bản chất gắn liền với từng ngành nghề kinh doanh như bản chất của 3 123doc 4 doanh số bất ổn theo chu kỳ kinh doanh, bản chất bất ổn trong giá bán, bản chất bất ổn trong chi phí và cạnh tranh trên thương trường. Rủi ro hoạt động: Rủi ro phát sinh từ các giao dịch trong kinh doanh xuất phát từ các đối tác hay những rủi ro phát sinh từ chính nội bộ doanh nghiệp, những thay đổi liên quan đến nhân sự, cơ cấu tổ chức hay quy trình sản xuất kinh doanh như rủi ro hoạt động, rủi ro thanh toán, rủi ro pháp lý, rủi ro về thuế và các rủi ro hệ thống khác: Rủi ro hoạt động: là rủi ro do thất bại trong hoạt động nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh hoặc hệ thống quản trị rủi ro.
Rủi ro này có thể bao gồm năng lực yếu kém của nhà quản lý, gặp sự cố vi tính hay lỗi phần mềm, hạn chế của ban giám đốc khi không phát hiện ra những nguy cơ tiềm Nn, những gian lận của người giao dịch hay của ban giám đốc. Tầm quan trọng của rủi ro hoạt động nằm ở hệ thống kiểm soát nội bộ. Tiến trình kiểm soát phải thực hiện tốt để đảm bảo là các thành viên tham gia tuân thủ những chính sách ban hành. Rủi ro thanh toán: rủi ro do các bên không có khả năng thanh toán Rủi ro pháp lý và quy định: rủi ro do hệ thống pháp lý không còn bảo đảm việc thực hiện hợp đồng hay các điều kiện hay quy định thay đổi ngoài dự kiến.
Rủi ro về thuế: là rủi ro mà luật thuế hoặc các văn bản hướng dẫn luật thuế thay đổi ngoài dự kiến. Thuế tác động đáng kể đến lợi nhuận ròng của công ty. Rủi ro do bản chất ngành nghề: Hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối mặt với rủi ro kinh doanh liên quan đến bản chất ngành nghề sản xuất kinh doanh. Đó là dạng rủi ro bản chất gắn liền với từng ngành nghề kinh doanh như: bản chất của doanh số bất ổn theo chu kỳ kinh doanh, bản chất bất ổn trong chi phí cạnh tranh trên thương trường.2 Rủi ro tài chính Rủi ro tài chính là những rủi ro liên quan đến sự biến động của các yếu tố tỷ giá, lãi suất, giá bán hàng hóa, sử dụng các khoản nợ vay làm ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp.
Hay nói cách khác, rủi ro tài chính bao gồm rủi ro kiệt giá tài chính và rủi ro do sử dụng đòn bNy tài chính. 123doc 5 Rủi ro kiệt giá tài chính: Độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán tác động đến thu nhập của doanh nghiệp được gọi là rủi ro kiệt giá tài chính. Ở các quốc gia phát triển, hầu hết tình trạng rủi ro kiệt giá tài chính là có thể phòng ngừa được vì có sự tồn tại của nhiều thị trường lớn và một thị trường hiệu quả mà thông qua đó những rủi ro này có thể được trao đổi lẫn nhau. Độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá Độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá bàn đến những trường hợp một công ty kinh doanh bị rủi ro tổn thất tỷ giá, nó nói lên mức độ mà công ty bị tác động như thế nào do những thay đổi trong tỷ giá đem lại.
Vì vậy, thuật ngữ độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá còn được gọi là “bị rủi ro tổn thất tỷ giá”. Việc dự báo chính xác tỷ giá là rất khó khăn, nếu không nói là không thể thực hiện được. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể đo lường được độ nhạy cảm đối với các dao động tỷ giá. N ếu công ty chịu sự tác động cao của các thay đổi trong tỷ giá, họ có thể sử dụng các công cụ khác nhau để phòng ngừa, hạn chế rủi ro này.
Độ nhạy cảm đối với các dao động tỷ giá thể hiện dưới 3 hình thức sau: Độ nhạy cảm giao dịch đối với các rủi ro tỷ giá. Độ nhạy cảm kinh tế đối với các rủi ro tỷ giá. Độ nhạy cảm chuyển đổi đối với các rủi ro tỷ giá. Độ nhạy cảm giao dịch đối với các rủi ro tỷ giá Giá trị của dòng tiền vào và ra của một công ty bằng nhiều loại ngoại tệ khác nhau sẽ bị tác động bởi những thay đổi trong tỷ giá.
Mức độ mà giá trị của các giao dịch bằng tiền mặt trong tương lai chịu sự tác động của những dao động trong tỷ giá được gọi là độ nhạy cảm giao dịch đối với các rủi ro tỷ giá, nó nói lên những phát sinh do có sự thay đổi giá trị trong các hợp đồng có doanh thu bằng ngoại tệ. Giả dụ như khi một công ty bán hàng ra thị trường nước ngoài và ghi hóa đơn cho khách hàng bằng đồng tiền của quốc gia khách hàng và đồng ý để cho khách hàng trả chậm trong vòng 60 ngày, như vậy công ty đã tự chấp nhận đặt mình theo những biến đổi tỷ giá trong thời gian 60 ngày cho khoản nợ. Điều này đã làm cho 123doc 6 khoản nợ có khả năng tăng lên hoặc giảm đi tùy theo biến động tỷ giá có lợi cho công ty hay không. Đo lường độ nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá gồm hai bước: (1) xác định dòng tiền vào và ra dự kiến bằng ngoại tệ, (2) xác định rủi ro tổng thể của độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá của các dòng tiền này.
Dưới đây là diễn giải cách thức thực hiện hai bước như sau: Bước 1: Xác định dòng tiền vào và ra dự kiến bằng ngoại tệ Các công ty đa quốc gia có doanh thu bằng ngoại tệ có xu hướng tập trung độ nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá cho một kỳ ngắn hạn sắp đến (tháng, quý) để họ có thể dự đoán chính xác dòng tiền bằng ngoại tệ. Đo lường độ nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá yêu cầu phải dự kiến dòng tiền vào và ra hợp nhất cho tất cả các công ty con phân theo từng loại ngoại tệ. Chúng ta có thể triển khai dòng tiền dự kiến cho các thời kỳ khác nhau như tuần, tháng, quý hoặc cho suốt nhiều thời kỳ. Tuy nhiên, tương lai càng xa thì việc đo lường độ nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá sẽ ít chính xác hơn do tính không chắc chắn lớn hơn về dòng tiền vào và ra của mỗi loại ngoại tệ và tính không chắc chắn của dự báo tỷ giá trong tương lai xa.
Độ nhạy cảm đối với rủi ro tỷ giá của tổng thể công ty chỉ có thể được đánh giá sau khi xem xét tính biến động và mối tương quan của các loại ngoại tệ. Bước 2: Xác định tỷ giá hối đoái trong tương lai. Độ nhạy cảm giao dịch đối với rủi ro tỷ giá dựa trên tính biến động tiền tệ. Mỗi công ty có phương pháp riêng trong việc dự đoán tỷ giá, việc dự đoán chính xác tỷ giá của các ngoại tệ trong tương lai rất khó thực hiện, nhưng công ty có thể sử dụng dữ kiện lịch sử để dự kiến được phần nào mức độ tiềm Nn của những chuyển biến cho mỗi loại ngoại tệ.
Độ nhạy cảm kinh tế đối với các rủi ro tỷ giá Độ nhạy cảm kinh tế đối với các rủi ro tỷ giá xuất hiện khi có những thay đổi trong tỷ giá hối đoái làm xuất hiện thêm các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ như khi đồng nội tệ lên giá, một công ty thuần túy kinh doanh trong nước cũng sẽ chịu ảnh hưởng 123doc 7 vì hàng nhập khNu cùng loại sẽ trở nên rẻ hơn tương đối so với hàng trong nước. N hư vậy đã xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới gây ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh và thu nhập của công ty trong nước.