Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng và cung ứng thiết bị công nghiệp đứng trước nhiều cơ hội mở rộng thị trường nhưng đồng thời phải đối mặt với môi trường kinh doanh biến động phức tạp. Hoạt động thi công xây lắp và cung ứng thiết bị máy móc công nghiệp luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro mang tính đặc thù cao như biến động giá nguyên vật liệu, trục trặc chuỗi cung ứng, tỷ giá hối đoái, an toàn lao động và pháp lý hợp đồng. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc thiếu vắng một hệ thống quản trị rủi ro bài bản có thể dẫn đến tổn thất tài chính trực tiếp, làm chậm tiến độ công trình và suy giảm uy tín thương hiệu.
Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang (MICOM) là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp và cung ứng, lắp đặt thiết bị máy móc công nghiệp tại Hải Phòng. Trong giai đoạn 2014 – 2016, hoạt động kinh doanh của công ty ghi nhận sự tăng trưởng về doanh thu và thị phần, song công tác quản lý rủi ro còn bộc lộ nhiều hạn chế: chưa có bộ phận chuyên trách, quy trình xử lý mang tính vụ việc, bị động và chi phí khắc phục rủi ro có xu hướng gia tăng. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang" được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết trong công tác nhận dạng, đánh giá và kiểm soát rủi ro của doanh nghiệp.
Khóa luận xác định rõ mục tiêu nghiên cứu gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và công tác quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang giai đoạn 2014 – 2016, chỉ rõ những kết quả đạt được, các mặt hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang đến năm 2020.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu thực hiện tại Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang, địa chỉ tại số 39 An Đà, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập và phân tích trong giai đoạn 3 năm từ năm 2014 đến năm 2016; các giải pháp và chỉ tiêu kế hoạch định hướng giai đoạn 2017 – 2020.
- Nội dung: Tập trung vào công tác quản trị rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm 4 khâu: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
Khóa luận tiếp cận rủi ro và quản trị rủi ro thông qua việc tổng hợp quan điểm của các học giả trong và ngoài nước:
- Khái niệm rủi ro: Khóa luận trích dẫn quan điểm của Giáo sư Nguyễn Lân ("rủi ro là sự không may"), Frank Knight ("rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được"), Allan Willett ("rủi ro là bất trắc liên quan đến biến cố không mong đợi"), C. Arthur Williams Jr. & Richard M. Heins ("sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả"), và tiếp cận định nghĩa rủi ro trong kinh doanh của tác giả Hồ Diệu ("sự tổn thất về tài sản hay giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến"). Từ đó, tác giả xác định rủi ro kinh doanh là các vận động khách quan bên ngoài gây cản trở mục tiêu, gây tổn thất và phát sinh chi phí cho chủ thể kinh doanh.
- Đặc trưng và phân loại rủi ro: Xem xét các đặc trưng cơ bản gồm tính đối xứng/bất đối xứng, tần suất và biên độ rủi ro. Hệ thống phân loại bao gồm: rủi ro sự cố và rủi ro cơ hội; rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán; rủi ro theo giai đoạn phát triển (khởi sự, trưởng thành, suy vong); rủi ro có thể phân tán và không thể phân tán; rủi ro theo môi trường kinh doanh; rủi ro theo chiều dọc và chiều ngang.
- Quy trình quản trị rủi ro: Hệ thống hóa 4 nội dung cốt lõi:
- Nhận dạng rủi ro: Thông qua 6 phương pháp (phân tích báo cáo tài chính, phân tích lưu đồ, thanh tra hiện trường, làm việc với các bộ phận nội bộ, làm việc với đối tác bên ngoài, phân tích hợp đồng và nghiên cứu hồ sơ tổn thất trong quá khứ).
- Phân tích rủi ro: Phân tích hiểm họa, nguyên nhân (ứng dụng lý thuyết Domino của H.W. Heinrich) và phân tích tổn thất bằng các phương pháp định lượng (trực tiếp, gián tiếp) cùng phương pháp định tính (cảm quan, phân tích tổng hợp).
- Kiểm soát rủi ro: Thực hiện các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa rủi ro và giảm thiểu tổn thất.
- Tài trợ rủi ro: Áp dụng các biện pháp tự khắc phục (tự bảo hiểm, quỹ dự phòng), chuyển giao rủi ro (bảo hiểm thương mại, hợp đồng giao ước) hoặc trung hòa rủi ro.
- Các nhân tố ảnh hưởng: Môi trường bên ngoài (môi trường chung: chính trị, pháp luật, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, văn hóa - xã hội; môi trường ngành: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung ứng) và môi trường bên trong (nhân tố con người, năng lực tài chính và quy mô doanh nghiệp).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn sâu trực tiếp Ông Vũ Văn Phương – Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang để làm rõ định hướng và thực trạng quản trị rủi ro; đồng thời thực hiện khảo sát lấy ý kiến 5 nhà quản trị cấp cao của công ty về tính cấp thiết của việc thành lập bộ phận chuyên trách rủi ro.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa số liệu thống kê nội bộ từ các phòng ban chức năng (Phòng Kế toán – Tài chính, Phòng Kỹ thuật, Phòng Kế hoạch Vật tư, Ban Giám đốc), báo cáo tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2014 – 2016.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh tuyệt đối, so sánh tương đối, phân tích tỷ trọng và tổng hợp dữ liệu thông qua phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về quản trị rủi ro doanh nghiệp. Tác giả khẳng định quản trị rủi ro là chuỗi hoạt động mang tính liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực. Vai trò của quản trị rủi ro được làm rõ qua 4 khía cạnh: giúp doanh nghiệp đánh giá chính xác các rủi ro tiềm ẩn, chủ động ứng phó trong các tình huống nguy nan, thiết lập hệ thống thông tin phản hồi và hoàn thiện khuôn khổ quản trị nội bộ.
Bên cạnh đó, chương này phân tích chi tiết các công cụ kỹ thuật nhận dạng rủi ro, phương pháp xác định nguyên nhân theo chuỗi liên hoàn (mối hiểm họa – môi trường – sự tương tác) và các phương thức tài trợ tổn thất. Chương 1 cũng thiết lập khung phân tích các nhân tố tác động từ môi trường vĩ mô, môi trường ngành và nội tại doanh nghiệp làm cơ sở lý luận để đối chiếu với thực tiễn tại đơn vị nghiên cứu ở chương tiếp theo.
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang
Khái quát về doanh nghiệp và kết quả kinh doanh
Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang (tên viết tắt: MICOM, tiền thân là Công ty Cổ phần Thiết bị máy Minh Quang) được thành lập ngày 26/07/2008 tại Hải Phòng, do ông Phan Ngọc Lân đứng đầu. Doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: xây dựng công nghiệp (nhà xưởng, phòng sạch, bể nước dung tích 500 – 1000 m³), cung cấp và lắp đặt thiết bị công nghiệp (điện, thông gió, khí nén, máy công nghiệp) và dịch vụ bảo dưỡng kỹ thuật. Cơ cấu tổ chức gồm Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, các Giám đốc điều hành, Giám đốc kỹ thuật cùng 11 phòng ban chức năng và các đội thi công trực thuộc.
| STT |
Chỉ tiêu (Đơn vị: Triệu đồng) |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
So sánh 2015/2014 (%) |
So sánh 2016/2015 (%) |
| 1 |
Doanh thu bán hàng và CCDV |
5.913,745 |
7.582,854 |
9.025,573 |
+28,22 |
+19,02 |
| 2 |
Các khoản giảm trừ doanh thu |
295,672 |
327,314 |
370,935 |
+10,70 |
+13,32 |
| 3 |
Doanh thu thuần bán hàng và CCDV |
5.618,073 |
7.255,540 |
8.654,638 |
+29,14 |
+19,28 |
| 4 |
Giá vốn hàng bán |
3.435,126 |
4.246,303 |
4.875,907 |
+23,61 |
+14,82 |
| 5 |
Lợi nhuận gộp |
2.182,948 |
3.009,237 |
3.778,732 |
+37,85 |
+25,57 |
| 6 |
Chi phí tài chính |
340,827 |
367,923 |
394,196 |
+7,95 |
+7,14 |
| 7 |
Chi phí quản lý kinh doanh |
988,582 |
944,800 |
1.075,547 |
-4,42 |
+13,83 |
| 8 |
Lợi nhuận trước thuế |
1.015,075 |
1.878,649 |
2.510,118 |
+85,07 |
+33,61 |
| 9 |
Lợi nhuận sau thuế |
812,060 |
1.502,919 |
2.008,094 |
+85,07 |
+33,61 |
Doanh thu và lợi nhuận của MICOM tăng trưởng liên tục trong giai đoạn 2014 – 2016; lợi nhuận sau thuế năm 2015 tăng 85,07% so với năm 2014 và năm 2016 tiếp tục tăng 33,61%. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng năm 2016 có dấu hiệu chậm lại do ảnh hưởng của các tổn thất rủi ro phát sinh trong kinh doanh.
Thực trạng nhận dạng và phân tích rủi ro
Công ty thực hiện nhận dạng rủi ro thông qua phân tích báo cáo tài chính, phân tích hợp đồng và kinh nghiệm thực tế. Thống kê số lần phát sinh rủi ro theo hợp đồng trong 3 năm như sau:
| Loại rủi ro phát sinh |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
Tổng số lần |
| Rủi ro do tai nạn lao động |
6 |
6 |
5 |
17 |
| Rủi ro từ nhà cung cấp |
2 |
5 |
3 |
10 |
| Rủi ro bồi thường hợp đồng |
4 |
3 |
2 |
9 |
| Rủi ro hàng hóa hư hỏng |
4 |
3 |
1 |
8 |
| Rủi ro trong vận chuyển bảo quản |
2 |
3 |
2 |
7 |
| Rủi ro đến từ nhân viên |
2 |
2 |
2 |
6 |
| Rủi ro trong thanh toán và tỷ giá |
1 |
2 |
2 |
5 |
| Rủi ro do yếu tố pháp luật |
1 |
2 |
1 |
4 |
Tác giả ghi nhận rủi ro tai nạn lao động chiếm số lần xuất hiện cao nhất (17 lần). Rủi ro tỷ giá xuất hiện khi công ty sử dụng đồng ngoại tệ để nhập khẩu thiết bị từ Nhật Bản. Rủi ro vận chuyển đường biển dẫn đến 7 hợp đồng bị chậm trễ (trong đó có 5 hợp đồng nhập khẩu từ Nhật Bản).
Về vị thế thị trường, thị phần của MICOM tại Hải Phòng tăng từ 15,6% (2014) lên 19,0% (2015) và đạt 20,5% (2016), xếp sau Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng (30,2% năm 2016) và Công ty Cổ phần Thương mại Mạnh Toàn (21,5% năm 2016).
Về phân tích thiệt hại, công ty chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng gián tiếp và phương pháp cảm quan. Mức độ tổn thất tài chính ghi nhận qua các năm:
| Khoản mục tổn thất (Đơn vị: Triệu VNĐ) |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
So sánh 2015/2014 (%) |
So sánh 2016/2015 (%) |
| Hàng hóa lỗi hỏng |
24,5 |
37,0 |
35,5 |
+51,0 |
-4,0 |
| Biến động giá cả |
21,6 |
30,0 |
25,5 |
+38,8 |
-15,0 |
| Rủi ro từ hợp đồng |
12,0 |
18,0 |
15,0 |
+50,0 |
-16,7 |
| Tổng tổn thất |
58,1 |
85,0 |
76,0 |
+46,3 |
-10,6 |
Thực trạng kiểm soát và tài trợ rủi ro
- Kiểm soát rủi ro: Công ty áp dụng cơ chế khoán trách nhiệm cho từng phòng kinh doanh/đội thi công khi ký hợp đồng. Để né tránh rủi ro tại các thị trường mới chưa nắm vững thông tin, công ty đã từ bỏ cơ hội kinh doanh (năm 2014 từ bỏ 4 lần tại Quảng Bình, Hà Tĩnh; năm 2015 từ bỏ 3 lần tại Quảng Nam, Đà Nẵng). Về nhân lực, số cán bộ kiêm nhiệm phụ trách rủi ro tăng dần: năm 2013 có 1 nhân viên; năm 2014 có 1 quản trị, 2 nhân viên; năm 2015 có 2 quản trị, 4 nhân viên; năm 2016 có 2 quản trị, 5 nhân viên. Khảo sát 5 nhà quản trị cấp cao cho thấy 4/5 ý kiến (80%) khẳng định việc lập bộ phận chuyên trách rủi ro là rất cấp thiết.
- Tài trợ rủi ro: Kết hợp tự tài trợ và chuyển giao qua bảo hiểm:
| Hình thức tài trợ (Đơn vị: Triệu VNĐ) |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
| Tự tài trợ |
50,0 |
30,0 |
60,0 |
| Chuyển giao rủi ro (Bảo hiểm) |
45,5 |
72,7 |
50,0 |
Về ngân sách tài trợ rủi ro: Năm 2014 lập quỹ 150 triệu đồng, thực dùng 130 triệu đồng; năm 2015 lập quỹ 185 triệu đồng nhưng thực tế chi trả lên tới 200 triệu đồng (vượt ngân sách 15 triệu đồng do biến động kinh tế và cắt giảm dự trù); năm 2016 lập quỹ 200 triệu đồng, thực dùng 190 triệu đồng.
Đánh giá chung
- Thành công: Nhận diện được các rủi ro căn bản; kết hợp linh hoạt giữa tự tài trợ và chuyển giao bảo hiểm; kiểm soát bước đầu rủi ro nhà cung ứng thông qua phân loại nhà cung cấp chính – phụ.
- Hạn chế: Chưa có phòng ban chuyên trách quản trị rủi ro; chưa đo lường chính xác tần suất rủi ro; nguồn lực tài chính tự tài trợ còn hạn chế dẫn đến thế bị động khi tổn thất phát sinh đột biến.
Chương 3: Đề xuất và kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang
Chương 3 xác định định hướng kế hoạch sản xuất kinh doanh giai đoạn 2017 – 2019 với mục tiêu doanh thu năm 2017 đạt 12.150 triệu đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 3.000 triệu đồng. Tác giả đề xuất 4 quan điểm chỉ đạo trong quản trị rủi ro:
- Kết hợp chặt chẽ giữa chấp nhận mạo hiểm có tính toán với tạo lập các biện pháp an toàn trong kinh doanh.
- Thực hiện phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro bằng hệ thống biện pháp đồng bộ, toàn diện.
- Quán triệt nguyên tắc "Phòng hơn chống", ưu tiên nhận dạng và can thiệp từ sớm.
- Hoàn thiện quản trị rủi ro bám sát mục tiêu gia tăng hiệu quả kinh doanh và phát triển bền vững.
Các nhóm giải pháp hoàn thiện được tác giả xây dựng bao gồm:
- Tổ chức bộ máy: Xây dựng bộ phận chuyên trách quản trị rủi ro, phân định rõ chức năng phối hợp giữa Phòng Kỹ thuật, Phòng Kế toán – Tài chính và các đội thi công.
- Quy trình nghiệp vụ: Chuẩn hóa quy trình 4 bước; áp dụng phương pháp phân tích nguyên nhân để kiểm soát rủi ro tai nạn lao động và hư hỏng máy móc; thắt chặt khâu soạn thảo hợp đồng xuất nhập khẩu.
- Tài chính và quỹ dự phòng: Tăng cường quy mô quỹ dự phòng tài trợ rủi ro hàng năm, xây dựng hạn mức tự tài trợ khoa học nhằm tránh tình trạng thâm hụt ngân sách như năm 2015.
- Nguồn nhân lực và văn hóa an toàn: Tăng cường đào tạo chuyên môn định kỳ, phổ biến quy chuẩn an toàn lao động tại công trường và tổ chức kèm cặp nghiệp vụ tại chỗ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp bức tranh chi tiết về thực trạng quản trị rủi ro tại một doanh nghiệp xây lắp thiết bị công nghiệp quy mô vừa:
- Dữ liệu thực chứng: Phản ánh đầy đủ các số liệu tài chính, phân loại 8 nhóm rủi ro phát sinh trong 3 năm (với 17 vụ tai nạn lao động, 10 vụ việc nhà cung ứng, 9 vụ bồi thường hợp đồng), cơ cấu tổn thất tài chính (58,1 triệu đồng năm 2014; 85 triệu đồng năm 2015; 76 triệu đồng năm 2016) và cơ cấu ngân sách tài trợ rủi ro.
- Hệ thống giải pháp ứng dụng: Đề xuất các giải pháp gắn liền với mô hình tổ chức và năng lực tài chính của MICOM (vốn điều lệ gần 30 tỷ đồng), giải quyết trực tiếp tình trạng quản lý kiêm nhiệm, phân tán rủi ro theo cơ chế khoán.
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: So với các nghiên cứu trước đó tại Trường Đại học Thương Mại (như đề tài của Nguyễn Thành Luân năm 2011 về ngành dược phẩm, Đào Thị Oanh năm 2012 về thương mại dịch vụ số, Đinh Thị Hằng về xuất khẩu điện tử), khóa luận này đã làm rõ các đặc trưng rủi ro riêng biệt của ngành máy và xây dựng công nghiệp — lĩnh vực chịu tác động kép từ chuỗi cung ứng nhập khẩu thiết bị cơ khí và an toàn thi công tại hiện trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi dữ liệu thứ cấp dừng lại ở giai đoạn 2014 – 2016 tại một doanh nghiệp đơn lẻ (MICOM Hải Phòng), chưa có điều kiện so sánh chéo số liệu tổn thất chi tiết với các đối thủ cùng ngành trên địa bàn.
- Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp định tính còn hạn chế (phỏng vấn trực tiếp Giám đốc điều hành và 5 nhà quản trị), chưa thực hiện khảo sát diện rộng đối với toàn bộ công nhân tại các đội thi công cơ khí, xây dựng.
- Các công cụ đo lường định lượng rủi ro dừng ở mức thống kê mô tả và phương pháp cảm quan, chưa ứng dụng các mô hình toán kinh tế phức tạp do hạn chế về cơ sở dữ liệu lưu trữ của doanh nghiệp.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Đánh giá hiệu quả thực tế của việc thành lập bộ phận chuyên trách quản trị rủi ro tại MICOM trong giai đoạn sau năm 2017.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro chuỗi cung ứng thiết bị máy móc công nghiệp tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp, Kinh tế xây dựng; cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực cơ điện, xây lắp công nghiệp và kinh doanh máy móc thiết bị.
- Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Bảng tổng hợp thống kê rủi ro (Bảng 2.2) và bảng phân tích tổn thất tài chính (Bảng 2.4) là tài liệu tham khảo thực tế cho việc lập danh mục rủi ro (risk register) trong doanh nghiệp xây dựng.
- Khung lý luận về các phương pháp nhận dạng và tài trợ rủi ro tại Chương 1 có cấu trúc rõ ràng, phù hợp làm tài liệu học tập và nghiên cứu các đề tài tương tự.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang quản lý hoạt động rủi ro theo mô hình nào?
Công ty chưa có phòng ban chuyên trách về quản trị rủi ro; hoạt động quản lý rủi ro được thực hiện phân tán theo cơ chế khoán trách nhiệm cho từng phòng kinh doanh/đội thi công khi ký kết và thực hiện hợp đồng.
2. Loại rủi ro nào xuất hiện với tần suất cao nhất tại MICOM trong giai đoạn 2014 – 2016?
Rủi ro do tai nạn lao động xuất hiện nhiều nhất với tổng cộng 17 lần trong 3 năm (năm 2014: 6 lần, năm 2015: 6 lần, năm 2016: 5 lần), bắt nguồn từ đặc thù thi công lắp đặt máy móc và công trình xây dựng.
3. Tại sao ngân sách tài trợ rủi ro của MICOM năm 2015 bị vượt mức dự trù?
Năm 2015, ngân sách dự trù là 185 triệu đồng nhưng chi phí thực tế sử dụng lên tới 200 triệu đồng (vượt 15 triệu đồng) do sự bất ổn của môi trường kinh tế, biến động tỷ giá và sự chủ quan khi công ty cắt giảm ngân sách dự phòng rủi ro trước đó.
4. Thị phần của MICOM thay đổi như thế nào so với các đối thủ cạnh tranh chính tại Hải Phòng giai đoạn 2014 – 2016?
Thị phần của MICOM tăng trưởng liên tục từ 15,6% (năm 2014) lên 19% (năm 2015) và đạt 20,5% (năm 2016), xếp thứ 3 trên thị trường sau Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đầu tư Hải Phòng (30,2% năm 2016) và Công ty Cổ phần Thương mại Mạnh Toàn (21,5% năm 2016).
5. Kết quả khảo sát ý kiến các nhà quản trị của công ty về việc thành lập bộ phận chuyên trách rủi ro ra sao?
Khi khảo sát 5 nhà quản trị cấp cao của công ty, có 4/5 người (tương đương 80%) nhận định việc thành lập bộ phận chuyên trách về quản trị rủi ro là rất cấp thiết trong tình hình hoạt động hiện tại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Huế đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị rủi ro và phản ánh thực trạng quản lý rủi ro tại Công ty Cổ phần máy và xây dựng Minh Quang giai đoạn 2014 – 2016. Thông qua hệ thống số liệu thực tế về doanh thu, tổn thất tài chính và thống kê 8 nhóm rủi ro phát sinh, tác giả đã chỉ rõ những hạn chế trong mô hình quản lý kiêm nhiệm và cơ chế tài trợ rủi ro của doanh nghiệp. Các định hướng, quan điểm và nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp cơ sở tham khảo cho ban lãnh đạo công ty trong việc hoàn thiện quy trình kiểm soát rủi ro đến năm 2020.