CHƯƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN 1. Khái niệm về đầu tư "Đầu tư là đem một khoản tiền đã tích lũy được của cá nhân, của tập thể, của Nhà nước, sử dụng vào một việc nhất định để sau đó thu lại một khoản tiền lớn hơn.13] Như vậy có thể nói đầu tư là việc sử dụng tiền của nhằm mục đích sinh lời, tính sinh lời là đặc trưng cơ bản, đặc trưng hàng đầu của đầu tư. Không thể coi là đầu tư, nếu việc sử dụng tiền của không nhằm mục đích thu lại một khoản có giá trị lớn hơn khoản đã bỏ ra ban đầu. Trong nền kinh tế thị trường, nền sản xuất hàng hóa, thực chất đầu tư là sự bỏ vốn (tư bản) dài hạn vào hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời.
Hoạt động sản xuất kinh doanh gồm nhiều lĩnh vực như: đầu tư dài hạn vào lĩnh vực khai thác, chế biến, kinh doanh dịch vụ. Đầu tư vào sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ nhằm thu hồi vốn nhanh, thu được nhiều lợi nhuận đối với nhà đầu tư, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nước. Khi đầu tư vào một quá trình sản xuất kinh doanh thì tính sinh lời dễ nhận thấy, trong một số trường hợp thì tính sinh lời không thể nhận thấy được một cách dễ dàng. Vì vậy, khái niệm về đầu tư cần xác định một cách chung hơn như sau: "Đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra tiềm lực lớn hơn" [4, tr.
Vốn đầu tư là phần tích lũy xã hội của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động của các nguồn khác được đưa vào quá trình sản xuất xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, khái niệm vốn được mở rộng, nên đầu tư hiểu theo nghĩa chung nhất, rộng nhất là quá trình sử dụng các nguồn lực, nhằm đạt được mục tiêu nhất định trong một thời gian xác định. Nguồn vốn đầu tư Xét trên tổng thể nền kinh tế thì nguồn vốn đầu tư bao gồm: nguồn tiết kiệm trong nước và nguồn từ nước ngoài đưa vào. Cũng có thể chia vốn đầu tư làm 2 loại là đầu tư của khu vực doanh nghiệp và cá nhân (khu vực tư) và đầu tư của khu vực nhà nước (khu vực công).
- Nguồn vốn đầu tư của khu vực tư: Nguồn đầu tư của khu vực tư (Ip) được hình thành từ tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và của cá nhân (Sp) và nguồn vốn của nước ngoài đổ vào khu vực này (Fp): Ip = Sp + Fp Sp = Ypd - Cp Trong đó: Ypd là thu nhập khả dụng; Cp là tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình Nguồn tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và cá nhân thường là nguồn chủ yếu trong nền kinh tế. Nguồn vốn của nước ngoài đổ vào khu vực tư thường ở các dạng như đầu tư trực tiếp (FDI) và các khoản nợ. - Nguồn vốn đầu tư của khu vực công: tức nguồn đầu tư của nhà nước (Ig) được xác định theo công thức sau: Ig = (T - Cg) + Fg Trong đó: + T là các khoản thu của khu vực nhà nước; + Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi đầu tư; + Fg là các khoản viện trợ và vay nợ nước ngoài vào khu vực nhà nước. Từ đẳng thức trên, ta thấy đầu tư của khu vực nhà nước được đảm bảo bởi: Thứ nhất, khả năng huy động vốn của Nhà nước từ khu vực doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức tài chính trung gian bằng việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu.
Thứ hai là tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về NSNN trừ cho các khoản chi thường xuyên. Trong trường hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn, không đủ đáp ứng nguồn vốn đầu tư lớn cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Thứ ba là nguồn vốn giúp đỡ từ nước ngoài có vai trò khá quan trọng đối với các nước kém phát triển, các nguồn vốn này thường dưới dạng viện trợ hoặc vay nợ. Đối tượng đầu tư Trong nền kinh tế, tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức và do đó cũng có nhiều loại đầu tư.
Có các loại đầu tư chính sau: - Đầu tư vào tài sản cố định: là đầu tư vào nhà, xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải… Đây là dạng đầu tư nhằm nâng cao năng lực sản xuất và có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hay thấp của nền kinh tế. - Đầu tư vào tài sản lưu động: tài sản lưu động là những nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm được sử dụng hết sau mỗi quá trình sản xuất hoặc là thành phẩm được đơn vị đó sản xuất ra mà chưa đem đi tiêu thụ hết. Như vậy, lượng đầu tư vào loại tài sản này chính là sự thay đổi về khối lượng của các hàng hóa này trong một thời gian nhất định; và khi đó, đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất bằng cách: (1) đầu tiên để tiết kiệm thời gian và chi phí quản lý, giao tiếp và phân phối; (2) đồng thời nhằm đảm bảo vật tư sản xuất luôn có sẵn khi cần. Xét trên tổng thể nền kinh tế, có một dạng đầu tư vào các tài sản cố định rất quan trọng, đó là đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phần lớn do nhà nước đảm nhận.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân và khu vực nước ngoài cũng tham gia đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (như BOT, BTO, BT,…). Đặc điểm của đầu tư vào các loại hàng hóa công là nhu cầu vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu nên thường do nhà nước đảm trách. Đầu tư công Đầu tư được hiểu là việc bỏ vốn vào các hoạt động KT-XH để mong nhận được lợi ích kinh tế hoặc lợi ích xã hội lớn hơn trong tương lai. Nếu phân theo nguồn vốn, đầu tư trong nước gồm có đầu tư công và đầu tư tư nhân; phân theo lĩnh vực có đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư phát triển.
Trong đó, đầu tư công tập trung chủ yếu vào đầu tư phát triển vì đầu tư phát triển nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất và mọi hoạt động xã hội khác. Theo dự thảo Luật Đầu tư công thì “Đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Luan van 8 không có khả năng hoàn vốn trực tiếp" [1]. Hay nói cách khác, đầu tư công được hiểu là việc sử dung vốn NSNN để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh (không nhằm mục đích thu lợi nhuận từ việc khai thác, sử dụng dự án đầu tư), trong đó có các dự án không có khả năng thu hồi vốn, thu hồi toàn bộ hoặc một phần vốn. Vốn Nhà nước quy định trong đầu tư công bao gồm vốn NSNN chi ĐTPT theo quy định của Luật NSNN; vốn được huy động từ quỹ đất và nguồn tài nguyên của các địa phương; các nguồn ngoài cân đối ngân sách có trên tài khoản NSNN gồm cả vốn vay ODA trong cân đối ngân sách để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư; vốn huy động của Nhà nước từ trái phiếu chính phủ, trái phiếu của chính quyền địa phương, công trái quốc gia và các nguồn vốn khác của Nhà nước.
Lĩnh vực đầu tư công Đối tượng sử dụng NSNN trong đầu tư công rất đa dạng, bao gồm: - Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hoá thuộc các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác. - Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp. - Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn Nhà nước theo quy định của pháp luật. - Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư khác theo quyết định của Chính phủ.
Nguyên tắc quản lý đầu tư công - Thực hiện theo chương trình, dự án; phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển, phù hợp kế hoạch đầu tư công được duyệt. - Đầu tư đúng mục tiêu, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, tiết kiệm và có hiệu quả; dự án đầu tư phải đảm bảo cân đối đủ vốn trước khi quyết định đầu tư. Luan van 9 - Bảo đảm tính công khai, minh bạch theo quy định, phù hợp yêu cầu cải cách hành chính và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước. - Thống nhất quản lý nhà nước, được phân cấp phù hợp với phân cấp quản lý theo quy định của pháp luật về NSNN và quản lý, sử dụng tài sản công.
- Phân định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hoạt động đầu tư công. - Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư hoặc góp vốn cùng nhà nước đầu tư vào các dự án công; khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn để nhận quyền kinh doanh, khai thác thu lợi các dự án đầu tư công khi có điều kiện. Chính phủ quy định chi tiết về việc nhận quyền kinh doanh, khai thác thu lợi các dự án đầu tư công khi có điều kiện. VỐN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NSNN 1.
Khái niệm - Vốn đầu tư là khái niệm bao gồm: các nguồn lực về tài chính, nguồn tài nguyên, chất xám. của chủ thể kinh tế và được đưa vào trong hoạt động đầu tư, chủ thể kinh tế ở đây có thể là các cá nhân, doanh nghiệp, ngành hay một quốc gia. Hay nói cách khác vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội được sử dụng nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai. Nội dung của vốn đầu tư bao gồm: Thứ nhất: Chi phí mua sắm các tài sản cố định gồm: máy móc thiết bị, đất đai, nhà xưởng, bí quyết công nghệ.