Chương 1: Những vấn đề lý luận và cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thu, chi ngân sách. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Vĩnh Yên từ năm 2010 đến năm 2013. Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU, CHI NGÂN SÁCH 1. Thu, chi ngân sách nhà nƣớc và vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Trong thực tiễn, từ nhiều cách tiếp cận khác nhau mà có khái niệm về NSNN.
Theo Luật NSNN của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2002, có hiệu lực từ năm 2004 thì “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Thu chi NSNN có thể hiểu là một kế hoạch tài chính quốc gia bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi của Nhà nƣớc đƣợc mô tả dƣới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ. Phần thu thể hiện các nguồn tài chính đƣợc huy động vào NSNN; phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động đƣợc để thực hiện mục tiêu KT-XH. NSNN đƣợc lập và thực hiện cho một thời gian nhất định, thƣờng là một năm và đƣợc Quốc hội phê chuẩn thông qua.
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc. Quỹ này thể hiện lƣợng tiền huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nƣớc, có hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính đƣợc tập trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định đƣợc vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt động thể hiện các quan hệ phân phối dƣới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các lĩnh vực, các địa phƣơng của nền kinh tế quốc dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 NSNN là một phạm trù kinh tế tài chính, đƣợc coi là một hệ thống quan hệ kinh tế tồn tại khách quan. Hệ thống các quan hệ kinh tế này đƣợc đặc trƣng bởi quan hệ tiền tệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính và bằng các quan hệ kinh tế đó mà quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc đƣợc tạo lập và sử dụng.Hệ thống các quan hệ kinh tế này bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với khu vực doanh nghiệp. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp. - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cƣ.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trƣờng tài chính. Khu vực Các đơn vị HC doanh nghiệp sự nghiệp NSNN Các tầng lớp Thị trƣờng dân cƣ tài chính Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa NSNN với các quan hệ kinh tế Nhƣ vậy đằng sau hình thức biểu hiện bên ngoài của NSNN là một loại quỹ tiền tệ của Nhà nƣớc với các khoản thu và các khoản chi của nó thì NSNN lại phản ảnh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối, thể hiện các quan hệ phân phối và các quan hệ lợi ích kinh tế gắn với một chủ thể đặc biệt, đó là Nhà nƣớc nhằm tạo lập và sử dụng nguồn tài chính quốc gia để giải quyết các nhiệm vụ về KT-XH. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách có quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tổ chức huy động, quản lý các nguồn thu và thực hiện nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống NSNN đƣợc tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính nhà nƣớc.
Ở nƣớc ta bộ máy quản lý hành chính Nhà nƣớc đƣợc tổ chức 4 cấp: Trung ƣơng; tỉnh, thành phố trực thuộc TW; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phƣờng, thị trấn. Mỗi cấp chính quyền đều phải có ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ đƣợc giao theo quy định của pháp luật và phù hợp với khả năng quản lý của cấp chính quyền đó. Quan hệ giữa các cấp ngân sách được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau: - Ngân sách Trung ƣơng và ngân sách mỗi cấp chính quyền đƣợc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. - Ngân sách TW đóng vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lƣợc, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ các địa phƣơng chƣa cân đối đƣợc ngân sách.
- Ngân sách địa phƣơng đƣợc phân cấp nguồn thu để chủ động thực hiện những nhiệm vụ đƣợc giao. - Nhiệm vụ chi thuộc cấp ngân sách nào do cấp ngân sách đó cân đối. Trƣờng hợp cơ quan QLNN cấp trên ủy quyền cho cơ quan QLNN cấp dƣới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới để thực hiện nhiệm vụ đó. - Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới để đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phƣơng.
Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới đƣợc ổn định từ 3 - 5 năm. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên đƣợc coi là khoản thu của ngân sách cấp dƣới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 - Ngoài cơ chế bổ sung nguồn thu và cơ chế ủy quyền không đƣợc dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác. NSNN đƣợc quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai minh bạch, có sự phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm, nguyên tắc cân đối.
Các nguyên tắc này xuất phát từ các lý do sau: Hệ thống tổ chức và quản lý NSNN cũng thống nhất từ TW đến địa phƣơng dƣới sự lãnh đạo và điều hành của Quốc hội và Chính phủ. Các cơ chế, chính sách thu chi và phƣơng thức quản lý NSNN phải đƣợc thực hiện thống nhất do Quốc hội, Chính phủ quy định. Nguyên tắc tập trung đƣợc thiết lập nhằm đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống NSNN và tăng cƣờng quyền lực của chính quyền TW. Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý NSNN xuất phát từ xu hƣớng mở rộng dân chủ trong hệ thống chính trị.
Ngƣời dân nộp thuế cho Nhà nƣớc có quyền yêu cầu Chính phủ phải công khai minh bạch các khoản thu, chi của NSNN để đánh giá mức độ hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền Nhà nƣớc trong việc sử dụng nguồn lực tài chính công. Để thực hiện nội dung này Chính phủ cũng đã có những quy định cụ thể để công khai ngân sách các cấp. NSNN vừa đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch vừa phải đƣợc kiểm tra, kiểm soát theo một cơ chế đƣợc tổ chức chặt chẽ, thông qua việc sử dụng có hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán, thanh tra tài chính. Phân cấp quản lý NSNN: NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC NGÂN SÁCH TRUNG ƢƠNG NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG Ngân sách tỉnh và Ngân sách huyện, Ngân sách xã, thành phố trực quận, thị xã, thành phƣờng, thị trấn thuộc TW phó trực thuộc tỉnh Sơ đồ 1.2: Hệ thống NSNN Việt nam Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp ngân sách là một tất yếu khách quan.
Thực chất của phân cấp ngân sách là giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong toàn bộ hoạt động của NSNN. Thông qua phân cấp NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong thu chi NSNN đƣợc xác định cụ thể; đồng thời, phân cấp NSNN còn phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp ngân sách, giữa các địa phƣơng, giữa địa phƣơng với quốc gia. Phân cấp ngân sách gắn liền với nội dung phân cấp hành chính. Phân cấp ngân sách không chỉ tập trung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyền địa phƣơng mà còn phải hƣớng đến nâng cao tính trách nhiệm về chính trị, tính hiệu quả và minh bạch.
* Nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách: Phân cấp ngân sách thực chất là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong việc sử dụng NSNN. Cụ thể là: - Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ thu chi quản lý ngân sách. Đây là nội dung chủ yếu của phân cấp ngân sách. - Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đối ngân sách giữa các cấp chính quyền.
- Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách. Đó là quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách. * Nguyên tắc phân cấp NSNN: - Phân cấp ngân sách phải đƣợc tiến hành đồng thời với phân cấp kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính. - Đảm bảo thực hiện vai trò chủ đạo của ngân sách trung ƣơng và vị trí độc lập của của ngân sách địa phƣơng trong hệ thống NSNN thống nhất.
- Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp ngân sách. Nguồn thu của mỗi cấp ngân sách gồm 2 loại sau đây: Các khoản thu 100%: Ngân sách các cấp đều có các khoản thu 100% nhƣ: NSTW có khoản thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 khẩu, các khoản thu từ dầu khí. Ngân sách cấp tỉnh có khoản: tiền cho thuê đất của các doanh nghiệp, tiền cho thuê nhà và bán nhà thuộc sở hữu nhà nƣớc. Ngân sách cấp huyện: thuế môn bài của các hộ kinh doanh và các doanh nghiệp nhà nƣớc trên địa bàn.
Các khoản thu phân chia: Do điều kiện kinh tế xã hội và dân số giữa các địa phƣơng phát triển không đồng đều nến số thu và yêu cầu chi ở mỗi địa phƣơng cũng rất khác nhau vì vậy ngoài khoản thu từng cấp đƣợc hƣởng 100%.