CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Khái niệm trường Đại học công lập Theo Điều 4 luật Giáo dục Đại học của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012 thì: “Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, các viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau tổ chức theo chuyên môn hai cấp để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học”. Mạng lưới các cơ sở giáo dục Đại học hiện nay có thể được phân loại thành nhiều cách khác nhau.
Căn cứ vào tính chất sở hữu, các cơ sở giáo dục Đại học được phân loại thành: đại học công lập, đại học tư thục và đại học có vốn đầu tư nước ngoài. Khoản 2, Điều 7 Luật Giáo dục Đại học quy định: “Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất”. Đại học là một bậc học chuyển tiếp của bậc phổ thông trung học dành cho những học sinh có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên. Trường đại học là một tổ chức cung cấp nền giáo dục cao và là nơi nghiên cứu, cấp bằng học thuật cho rất nhiều các lĩnh vực ngành nghề.
Các trường đại học cung cấp cho chương trình giáo dục cho sinh viên và chương trình giáo dục sau đại học cho các học viên (Vũ Thị Thanh Thuý, 2012) Theo Luật giáo dục đại học có hiệu lực từ 1/1/2013 thì cơ cấu tổ chức trường đại học gồm: - Hội đồng đại học; - Giám đốc, phó giám đốc; - Văn phòng, ban chức năng; - Trường đại học thành viên; viện nghiên cứu khoa học thành viên. - Khoa, trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ. - Tổ chức phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng, cơ sở sản xuất và kinh doanh, dịch vụ. 5 - Phân hiệu (nếu có); - Hội đồng khoa học và đào tạo, các hội đồng tư vấn 1.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Trường Đại học công lập Theo điểu 28, Luật giáo dục đại học năm 2012 của Quốc hội khóa XIII, các trường đại học công lập có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: - Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển cơ sở giáo dục đại học. - Triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. - Phát triển các chương trình đào tạo theo mục tiêu đã xác định, đảm bảo sự liên thông giữa các chương trình và trình độ đào tạo. - Tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức người lao động.
- Quản lý người học, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của giảng viên, viên chức, nhân viên, cán bộ quản lý và người học; dành kinh phí để thực hiện chính sách xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách xã hội, đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; đảm bảo môi trường sư phạm cho hoạt động giáo dục. - Tự đánh giá chất lượng đào tạo và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục. - Được nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất; được miễn giảm thuế theo quy định của pháp luật. - Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực; xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị.
- Hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài. - Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự kiểm tra, thanh tra của Bộ Giáo dục và đào tạo, các bộ ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở giáo dục đại học đặt trụ sở hoặc có tổ chức hoạt động đào tạo theo quy định. - Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Phân loại trường Đại học công lập Có nhiều tiêu chí để phân loại các trường đại học công lập cụ thể như sau: Phân loại trường ĐHCL theo khung xếp hạng các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công lập thuộc ngành giáo dục và đào tạo theo Quyết định 181/2005/QĐ- TTg thì ĐHCL gồm: - Đại học quốc gia, Học viện Hành chính quốc gia: Hạng đặc biệt; - Đại học vùng, các trường đại học trọng điểm: Hạng một; - Các trường đại học còn lại: Hạng hai; Phân loại trường ĐHCL theo khả năng tự đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 : - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (≥100%); - Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (≥10% và <100%), phần còn lại được NSNN cấp; - Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp (≤10%), đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, KP hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động.
Phân loại trường ĐHCL theo mối quan hệ ngân sách Các trường ĐHCL được chia thành các đơn vị dự toán sau theo Quyết định số 90/2007/QĐ-BTC: - Đơn vị dự toán cấp 1: Là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân giao. Đơn vị dự toán cấp 1 thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc; chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán, quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc theo quy định; - Đơn vị dự toán cấp 2: Là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp 1, được đơn vị dự toán cấp 1 giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán 7 cấp 3 (trường hợp được uỷ quyền của đơn vị dự toán cấp 1), chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán, quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới theo quy định; - Đơn vị dự toán cấp 3: Là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp 1 (trường hợp không có đơn vị dự toán cấp 2) hoặc đơn vị dự toán cấp 2 giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc (nếu có);. - Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp 3: Là đơn vị được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định. Đơn vị chỉ được mở tài khoản giao dịch ở Ngân hàng, Kho bạc khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Khái niệm, nguyên tắc và quản lý tài chính trong các trường Đại học công lập a. Khái niệm quản lý tài chính trong các trường Đại học công lập Có nhiều khái niệm khác nhau về tài chính, nhưng một cách chung nhất có thể hình dung tài chính có biểu hiện bên ngoài và bản chất bên trong. Tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền tệ diễn, là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
Về mặt bản chất, nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính giữa các chủ thể đó. Từ đó có thể hiểu quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý các quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý có hiệu quả theo mục đích đã định. Đồng thời, quản lý tài chính cũng chính là thông qua các hoạt động kể trên để tác động có hiệu quả nhất tới việc xử lý các mối quan hệ kinh tế - xã hội nẩy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội. 8 ĐHCL là một đơn vị sự nghiệp công nên quản lý tài chính trong trong các trường ĐHCL là một bộ phận của quản lý tài chính công, “là sự tác động của hệ thống các cơ quan nhà nước đến những mặt hoạt động của tài chính công nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” (Vũ Thị Nhài, 2008) Như vậy, quản lý tài chính trong các trường ĐHCL là quản lý các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những phương thức và biện pháp khác nhau, được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế - tài chính một cách phù hợp nhằm đạt được mục tiêu giáo dục và sứ mệnh của trường Đại học.
Nguyên tắc quản lý tài chính của trường Đại học công lập Theo tác giả Vũ Thị Nhài (2008), quản lý tài chính trong trường đại học công lập tuân thủ những nguyên tắc sau: - Nguyên tắc tập trung dân chủ: thông qua việc QLTC đối với trường đại học, các khoản thu-chi trong QLTC phải được công khai, minh bạch, có sự tham gia của cán bộ, công chức trong cơ quan nhằm đáp ứng mục tiêu chung của đơn vị; - Nguyên tắc hiệu quả: Hiệu quả trong QLTC được thể hiện khi thực hiện các khoản chi tiêu. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là hai nội dung quan trọng cần được xem xét đồng thời khi quyết định chính sách tài chính; - Nguyên tắc thống nhất: Thống nhất QLTC là việc tuân thủ theo một quy định chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, quyết toán, xử lý những vướng mắc trong quá trình thực hiện.