Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế và hội nhập quốc tế, đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2010, tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo đã tăng mạnh từ 13,7% lên mức 20% tổng chi ngân sách quốc gia. Cùng với đó, quy mô giáo dục đại học mở rộng nhanh chóng khi số lượng sinh viên đại học toàn quốc giai đoạn 2004-2009 tăng 17%, từ 1.046.291 sinh viên lên 1.242.778 sinh viên, trong đó khối trường công lập luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 87%.

Tuy nhiên, cơ chế tài chính công truyền thống bộc lộ nhiều điểm nghẽn khi ngân sách nhà nước dần cắt giảm tỷ lệ chi thường xuyên, trong khi mức thu học phí vẫn bị khống chế bởi khung trần cứng nhắc. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo với sự hạn hẹp của nguồn lực tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận về quyền tự chủ và quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp có thu; phân tích toàn diện thực trạng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính tại các trường đại học công lập tự chủ một phần và tự chủ toàn bộ; xác định các điểm nghẽn cốt lõi; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tài chính bền vững định hướng đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các trường đại học công lập điển hình tại TP. Hồ Chí Minh với chuỗi dữ liệu thực nghiệm chuyên sâu giai đoạn 2007-2009. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ, tối ưu hóa cơ cấu chi phí đào tạo và cải thiện tỷ lệ sinh viên trên giảng viên từ mức 34 sinh viên/giảng viên năm 2004 xuống ngưỡng tiêu chuẩn 20 sinh viên/giảng viên, tạo tiền đề nâng cao thu nhập cho đội ngũ cán bộ viên chức tối thiểu 15% đến 20% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tài chính công trong cung cấp dịch vụ sự nghiệp công lập kết hợp cùng khung lý thuyết ba nguồn tài chính giáo dục đại học của Hauptman công bố năm 2006, khẳng định sự vận hành bền vững của trường đại học phải dựa trên sự kết hợp linh hoạt giữa ngân sách nhà nước, học phí và nguồn lực đóng góp từ cộng đồng. Bên cạnh đó, luận văn tham chiếu ba mô hình tài chính giáo dục đại học của Hauptman công bố năm 2007: mô hình miễn học phí hoặc học phí thấp (ngân sách nhà nước chiếm 90%, học phí 10%); mô hình học phí hoàn trả sau tốt nghiệp qua tín dụng sinh viên (áp dụng thành công tại Úc và Thái Lan với tỷ lệ thu hồi vốn đạt từ 55% đến 64%); mô hình chia sẻ chi phí thông qua tăng học phí kết hợp học bổng hỗ trợ sinh viên nghèo (áp dụng tại Mỹ, Canada và New Zealand).

Hệ thống khái niệm chính được làm rõ bao gồm:

  • Đơn vị sự nghiệp công lập có thu: tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cung cấp dịch vụ công không vì mục tiêu lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước.
  • Cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm tài chính: cơ chế phân cấp quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức bộ máy, sử dụng lao động, quản lý tài sản, huy động vốn vay tín dụng và quyết định chi tiêu nội bộ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP.
  • Quản trị nguồn lực tài chính đại học: hệ thống các quan hệ kinh tế và biện pháp tổng hợp nhằm huy động, phân bổ, sử dụng nguồn thu ngân sách cấp, nguồn thu sự nghiệp và các nguồn thu khác phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.
  • Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: quỹ tài chính bắt buộc trích lập tối thiểu 25% từ số chênh lệch thu lớn hơn chi nhằm tái đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị và tăng cường năng lực chuyên môn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính toàn diện và chuẩn xác:

  • Dữ liệu thứ cấp: thu thập từ báo cáo quyết toán tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ giai đoạn 2007-2009 của 6 trường đại học công lập trọng điểm gồm: Đại học Bách Khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Kiến trúc TP.HCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (nhóm tự chủ một phần), Đại học Mở TP.HCM và Đại học Quốc tế (nhóm tự chủ toàn bộ); cùng các số liệu thống kê giáo dục giai đoạn 2004-2009 từ Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Dữ liệu sơ cấp: thực hiện điều tra khảo sát với cỡ mẫu 32 chuyên gia, nhà quản lý, kế toán trưởng, cán bộ chuyên trách phòng Tài chính - Kế toán, phòng Quản lý đào tạo tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và chuyên viên Vụ Kế hoạch - Tài chính thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Phương pháp chọn mẫu: sử dụng phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích (purposive sampling) kết hợp chọn mẫu thuận tiện, đảm bảo đối tượng khảo sát có trình độ chuyên môn sâu và trực tiếp tham gia điều hành công tác tài chính giáo dục.
  • Phương pháp phân tích: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tỷ trọng cơ cấu, so sánh chuỗi thời gian và tổng hợp định lượng thông qua phần mềm xử lý thống kê. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác sự chuyển dịch cơ cấu nguồn thu - chi thực tế qua các năm tài chính, đồng thời đánh giá khách quan mức độ tự chủ chuyên môn và tài chính giữa các mô hình trường.
  • Timeline nghiên cứu: dữ liệu khảo sát và phân tích tài chính tập trung vào chu kỳ 3 năm liên tiếp (2007-2009), đặt trong bối cảnh đối chiếu quy hoạch phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2011-2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu tài chính giai đoạn 2007-2009 tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, cơ cấu nguồn thu chuyển dịch mạnh mẽ từ phụ thuộc ngân sách sang nguồn thu học phí. Tại Trường Đại học Bách Khoa TP.HCM, tổng nguồn thu tăng từ 171.076 triệu đồng năm 2007 lên 194.006 triệu đồng năm 2009; trong đó, tỷ trọng ngân sách nhà nước giảm từ 43% (74.288 triệu đồng) xuống còn 30% (58.710 triệu đồng), ngược lại nguồn thu học phí tăng từ 45% (76.403 triệu đồng) lên 53% (103.435 triệu đồng). Tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, tỷ trọng nguồn thu học phí trong tổng nguồn thu cũng tăng từ 40% (35.897 triệu đồng năm 2007) lên 53% (63.910 triệu đồng năm 2009), trong khi ngân sách nhà nước giảm tương ứng từ 56% xuống 44%.

Thứ hai, tồn tại sự phân hóa và bất bình đẳng sâu sắc giữa nhóm trường tự chủ một phần và tự chủ toàn bộ. Tại các trường tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động, ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên chiếm tỷ lệ gần như bằng 0% (như Đại học Mở TP.HCM nhận 0 đồng năm 2007 và chỉ nhận 516 triệu đồng năm 2009 cho chi thường xuyên, còn lại là kinh phí nghiên cứu khoa học 573 triệu đồng). Do đó, Đại học Mở TP.HCM phải dựa hoàn toàn vào học phí với tỷ trọng chiếm từ 84% đến 91% tổng thu (đạt 153.714 triệu đồng năm 2009). Tại Đại học Quốc tế, nguồn thu học phí chiếm tới 86% năm 2007 và tăng lên 94% năm 2009 (đạt 41.910 triệu đồng trên tổng thu 44.528 triệu đồng).

Thứ ba, nguồn thu sự nghiệp phụ thuộc nghiêm trọng vào học phí, các nguồn thu từ dịch vụ khoa học công nghệ còn rất khiêm tốn. Học phí chiếm bình quân hơn 84% tổng thu sự nghiệp tại các trường khảo sát. Đối với nhóm tự chủ hoàn toàn, học phí chiếm bình quân 93% tổng thu sự nghiệp (Đại học Quốc tế đạt mức kỷ lục 99% liên tục từ 2007 đến 2009). Các nguồn thu sự nghiệp khác từ chuyển giao công nghệ, hợp đồng nghiên cứu và khai thác cơ sở vật chất chỉ dao động từ 1% đến 23% (Trường Đại học Bách Khoa đạt 23% năm 2009 với 30.209 triệu đồng; Đại học Kiến trúc đạt 14% với 6.918 triệu đồng; Đại học Khoa học Tự nhiên chỉ đạt 6% với 4.420 triệu đồng).

Thứ tư, bất cập trong cơ chế phân bổ ngân sách chi thường xuyên và đầu tư cơ sở vật chất. Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên giai đoạn 2007-2009 có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ, phân bổ chủ yếu theo chỉ tiêu số lượng sinh viên mang tính bình quân cào bằng, chưa tính đến hệ số chi phí thực tế giữa khối ngành kỹ thuật và khoa học xã hội. Hơn nữa, ngân sách cấp trực tiếp cho đầu tư xây dựng cơ bản tại các trường trực thuộc bộ gần như bằng 0, dẫn đến áp lực quá tải phòng học khi số lượng giảng viên tăng 35% (từ 27.301 lên 37.016 giảng viên công lập giai đoạn 2004-2009) nhưng hạ tầng kỹ thuật không theo kịp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các điểm nghẽn bắt nguồn từ khung khổ pháp lý chưa đồng bộ. Mặc dù các trường được giao tự chủ tài chính nhưng mức trần học phí chính quy trong suốt thời gian dài bị khống chế ở mức thấp (chỉ 240.000 đồng/sinh viên/tháng theo Quyết định số 1310/QĐ-TTg), làm hạn chế khả năng bù đắp chi phí đào tạo thực tế. Các dữ liệu tài chính này có thể được mô tả trực quan qua biểu đồ cơ cấu nguồn thu và bảng tổng hợp phân tích chi thường xuyên: khoản chi cho con người (lương, phụ cấp, thù lao) luôn chiếm tỷ trọng chi phối từ 60% đến 70% tổng chi thường xuyên, chi cho nghiệp vụ chuyên môn chiếm 20% đến 25%, trong khi chi cho mua sắm, sửa chữa và đầu tư thiết bị chỉ chiếm khoảng 10% đến 15%.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự chênh lệch lớn về cấu trúc tài chính công. Tại Mỹ, ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục đại học chiếm tới 51% tổng nguồn thu, học phí chiếm 18%, đóng góp xã hội 31% (tổng chi giáo dục chiếm khoảng 7% GDP). Tại Trung Quốc, ngân sách nhà nước đóng góp tới 63%, học phí chỉ chiếm 19% và nguồn thu khác chiếm 18%. Việc các trường đại học công lập tự chủ toàn bộ tại TP. Hồ Chí Minh phải tự trang trải tới trên 90% chi phí từ học phí của người học mà không có cơ chế tín dụng sinh viên tương xứng (như gói tín dụng 20 tỷ bạt tại Thái Lan hay hệ thống hoàn trả sau tốt nghiệp của Úc) đặt ra thách thức rất lớn đối với tính bền vững tài chính và công bằng xã hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tháo gỡ khó khăn và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính tại các trường đại học công lập, hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được thực hiện:

1. Hoàn thiện môi trường pháp lý và trao quyền tự chủ định giá dịch vụ đào tạo:

  • Chủ thể thực hiện: Chính phủ, Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Hành động cụ thể: Xóa bỏ cơ chế trần học phí cào bằng; cho phép các trường đại học tự chủ toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên được quyền tự xác định mức thu học phí tương xứng với chất lượng kiểm định và chi phí đào tạo thực tế theo lộ trình Nghị định số 49/2010/NĐ-CP; đồng thời xây dựng khung pháp lý bảo vệ người học yếu thế qua quỹ tín dụng ưu đãi.
  • Target metric: Tăng quy mô nguồn thu hợp pháp của các trường thêm 25% đến 35% trong giai đoạn 2012-2015.
  • Timeline: Hoàn thiện và ban hành văn bản hướng dẫn trong vòng 12 tháng.

2. Đổi mới phương thức phân bổ ngân sách nhà nước theo kết quả đầu ra:

  • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM và các Bộ chủ quản.
  • Hành động cụ thể: Chuyển đổi phương thức cấp ngân sách theo chỉ tiêu số lượng sang cơ chế đấu thầu, đặt hàng nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học; áp dụng hệ số phân bổ kinh phí theo khối ngành đào tạo (nhân hệ số 1,5 đến 2,5 cho khối kỹ thuật, công nghệ và y dược).
  • Target metric: Nâng tỷ trọng kinh phí ngân sách cấp cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lên tối thiểu 20% tổng ngân sách nhà nước cấp cho các trường.
  • Timeline: Triển khai áp dụng thí điểm trong chu kỳ ngân sách 2 năm tiếp theo.

3. Đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ khoa học và khai thác tài sản công:

  • Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu, các Viện nghiên cứu, Khoa chuyên môn thuộc các trường đại học.
  • Hành động cụ thể: Thành lập doanh nghiệp khoa học công nghệ trực thuộc; thương mại hóa kết quả nghiên cứu, sáng chế; đẩy mạnh các chương trình liên kết đào tạo quốc tế và cung ứng dịch vụ tư vấn kỹ thuật cho doanh nghiệp.
  • Target metric: Tăng tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp phi học phí từ mức bình quân 10% hiện nay lên đạt mốc 25% đến 30% tổng thu sự nghiệp vào năm 2020.
  • Timeline: Thực hiện liên tục hàng năm, đánh giá định kỳ 6 tháng một lần.

4. Chuẩn hóa quy chế chi tiêu nội bộ và tối ưu hóa trích lập các quỹ:

  • Chủ thể thực hiện: Hội đồng trường, Phòng Tài chính - Kế toán phối hợp Ban Chấp hành Công đoàn.
  • Hành động cụ thể: Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ gắn liền với đánh giá hiệu quả công việc (KPI); thực hiện trích lập nghiêm ngặt tối thiểu 25% thặng dư chênh lệch thu lớn hơn chi vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để hiện đại hóa phòng thí nghiệm; chi trả thu nhập tăng thêm cho giảng viên tối đa từ 2 đến 3 lần quỹ lương ngạch bậc.
  • Target metric: Tiết kiệm tối thiểu 10% đến 15% chi phí hành chính thường xuyên, gia tăng thu nhập bình quân của cán bộ viên chức thêm 20%/năm.
  • Timeline: Rà soát, sửa đổi quy chế chi tiêu nội bộ định kỳ vào đầu mỗi năm tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng chính:

1. Ban Giám hiệu và Hội đồng trường các trường đại học công lập:

  • Lợi ích: Tiếp cận khung tham chiếu toàn diện để hoạch định chiến lược tự chủ tài chính dài hạn, tái cấu trúc nguồn thu và tối ưu hóa chi tiêu thường xuyên.
  • Use case: Ứng dụng mô hình cân đối thu - chi và quy trình trích lập các quỹ sự nghiệp để xây dựng đề án tự chủ tài chính trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Cán bộ quản lý Phòng Tài chính - Kế toán và Phòng Kế hoạch - Cơ sở vật chất:

  • Lợi ích: Nắm vững phương pháp lập dự toán ngân sách theo định mức kinh tế kỹ thuật, kiểm soát rủi ro dòng tiền và thiết lập quy chế chi tiêu nội bộ minh bạch.
  • Use case: Sử dụng hệ thống chỉ tiêu phân tích chi phí đào tạo bình quân trên một sinh viên và định mức trích lập quỹ phát triển sự nghiệp tối thiểu 25% vào công tác kế toán quản trị hàng năm.

3. Các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách giáo dục:

  • Lợi ích: Có cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy về tác động của cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học trọng điểm phía Nam để đánh giá chính sách.
  • Use case: Làm căn cứ thực tiễn để sửa đổi, bổ sung các nghị định về tự chủ đơn vị sự nghiệp công lập, hoàn thiện khung giá dịch vụ giáo dục đại học và đổi mới cơ chế cấp phát ngân sách.

4. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khối ngành Kinh tế và Quản lý công:

  • Lợi ích: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về lý thuyết tài chính công, phương pháp phân tích cơ cấu tài chính trường học và số liệu thực nghiệm giai đoạn bản lề 2004-2009.
  • Use case: Trích dẫn khung phân tích của Hauptman, phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát 32 chuyên gia và mô hình so sánh quốc tế để phát triển các đề tài luận văn, luận án liên quan.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu nguồn thu giữa trường đại học tự chủ một phần và tự chủ toàn bộ khác nhau như thế nào?

Số liệu thực tế giai đoạn 2007-2009 cho thấy các trường tự chủ một phần (như Đại học Bách Khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên) nhận từ 24% đến 56% kinh phí từ ngân sách nhà nước và thu học phí chiếm 40% đến 66%. Ngược lại, các trường tự chủ toàn bộ (như Đại học Mở TP.HCM, Đại học Quốc tế) chỉ nhận dưới 3% ngân sách (chủ yếu là chi nghiên cứu khoa học) và phải dựa từ 84% đến 97% vào nguồn thu học phí từ người học.

2. Quy định về việc trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tại các trường đại học công lập ra sao?

Căn cứ theo quy định tài chính đơn vị sự nghiệp, sau khi trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và hoàn thành nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước, các trường đại học công lập bắt buộc phải trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Nguồn quỹ này được dùng để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc trang thiết bị phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.

3. Vì sao nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và dịch vụ của các trường đại học công lập còn thấp?

Thực tế phân tích cho thấy nguồn thu sự nghiệp khác ngoài học phí chỉ chiếm từ 6% đến 23% tổng thu sự nghiệp (như Đại học Khoa học Tự nhiên chỉ đạt từ 4% đến 6%). Nguyên nhân do cơ chế liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa gắn kết, chính sách thương mại hóa đề tài nghiên cứu còn thiếu hành lang pháp lý, đồng thời giảng viên phải đảm nhận tải lượng giảng dạy cao với tỷ lệ bình quân 29 sinh viên trên một giảng viên.

4. Mức trần học phí thấp gây cản trở như thế nào đến việc nâng cao chất lượng đào tạo?

Khung học phí chính quy cũ tồn tại suốt 10 năm chỉ ở mức 240.000 đồng/sinh viên/tháng theo Quyết định số 1310/QĐ-TTg khiến tổng thu của các trường không đủ bù đắp chi phí thực tế. Điều này gây khó khăn nghiêm trọng cho các trường khối kỹ thuật, nơi chi phí thực hành, hóa chất và phòng thí nghiệm đòi hỏi ngân sách rất lớn, buộc các trường phải bù đắp bằng cách tăng chỉ tiêu tuyển sinh vượt công suất hạ tầng.

5. Kinh nghiệm quốc tế nào về quản lý tài chính đại học có thể áp dụng hiệu quả tại Việt Nam?

Việt Nam có thể áp dụng mô hình chia sẻ chi phí kết hợp quỹ tín dụng ưu đãi cho sinh viên của Úc và Thái Lan (cho phép người học vay trang trải 100% học phí và sinh hoạt phí, hoàn trả sau khi tốt nghiệp 2 năm). Đồng thời, nhà nước cần duy trì tỷ trọng hỗ trợ ngân sách cho giáo dục công lập ở mức trên 50% tổng nguồn thu như Mỹ và Trung Quốc nhằm bảo đảm bình đẳng cơ hội học tập cho mọi đối tượng.

Kết luận

  • Chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính là xu thế tất yếu, giúp các trường đại học công lập chủ động sắp xếp bộ máy, khai thác tối đa nguồn lực và nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn mực quốc tế.
  • Bằng chứng thực nghiệm giai đoạn 2007-2009 chỉ ra sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn thu học phí (chiếm 80% đến 93% tổng thu sự nghiệp), đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh cơ chế trần học phí theo lộ trình thị trường đi kèm chính sách an sinh giáo dục.
  • Cần đổi mới căn bản phương thức phân bổ ngân sách nhà nước từ cào bằng theo chỉ tiêu tuyển sinh sang cơ chế đặt hàng, đấu thầu nhiệm vụ nghiên cứu và phân bổ theo chi phí đặc thù của từng khối ngành.
  • Chuẩn hóa quy chế chi tiêu nội bộ, bảo đảm tỷ lệ trích lập tối thiểu 25% thặng dư tài chính cho Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và chi trả thu nhập tăng thêm theo hiệu quả công việc là giải pháp then chốt nâng cao đời sống cán bộ.
  • Xây dựng mô hình tài chính đại học bền vững đến năm 2020 đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế vĩ mô của nhà nước và năng lực quản trị nội bộ linh hoạt của từng cơ sở giáo dục đại học.

Luận văn đã đóng góp hệ thống lý luận vững chắc và bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng quản lý tài chính tại các trường đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các trường cần khẩn trương rà soát cơ cấu nguồn thu - chi, hoàn thiện quy chế quản trị nội bộ trong giai đoạn 2012-2015 nhằm đón đầu các cơ hội đổi mới giáo dục đại học đến năm 2020. Quý độc giả, các nhà quản lý và nghiên cứu học thuật hãy khai thác toàn văn tài liệu để ứng dụng các mô hình và giải pháp vào thực tiễn quản lý giáo dục.