mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục các bảng biểu số liệu, luận văn đƣợc bố cục gồm 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc về BHXH. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc về BHXH tại tỉnh Luan van 4 Kon Tum - Chƣơng 3: Một số giải pháp để hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về BHXH tại tỉnh Kon Tum. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản lý nhà nƣớc về BHXH là có ý nghĩa rất lớn trong quá trình tổ chức thực hiện ASXH cho mọi ngƣời. Công tác quản lý nhà nƣớc nhằm góp phần ổn định, phát triển hệ thống BHXH; góp phần củng cố lòng tin của nhân dân lao động vào cơ quan BHXH; từ đó góp phần nâng cao đời sống của ngƣời dân, ổn định kinh tế xã hội của đất nƣớc.
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc về lĩnh vực này. Tác giả đã lựa chọn một số tài liệu liên quan để làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài của mình: Giáo trình “Quản lý nhà nước về xã hội” Học viện Hành chính Quốc gia [25], đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nƣớc về xã hội, luôn là vấn đề đƣợc các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới quan tâm bởi vai trò, tầm ảnh hƣởng và sự tác động của nó liên quan đến mọi mặt của đời sống con ngƣời. Giáo trình đã tiếp cận các thuật ngữ xã hội và quản lý nhà nƣớc về xã hội dƣới góc độ khoa học quản lý hành chính, hệ thống cái khái niệm, nội dung và phƣơng thức quản lý nhà nƣớc về xã hội. Sách “Giáo trình Bảo hiểm xã hội” của Hoàng Mạnh Cừ và Đoàn Thị Thu Hƣơng (2011), Nhà xuất bản Tài chính [23], đã hệ thống những vấn đề cơ bản về BHXH nhƣ những khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động này tại Việt Nam và thế giới, khái quát về quản lý nhà nƣớc đối với BHXH, đƣa ra các mô hình quản lý tại Việt Nam, sự cần thiết khách quan có sự can thiệp của nhà nƣớc vào lĩnh vực này, cũng nhƣ hệ thống các văn bản pháp quy trong lĩnh vực bảo hiểm.
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay Luan van 5 và một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu” của Nguyễn Văn Châu (1996) [14]. Đây là một trong những đề tài đƣợc thực hiện sớm nhất kể từ khi ngành BHXH đƣợc thành lập. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là quản lý thu với vai trò là cơ quan cấp Trung ƣơng, trong công cuộc đổi mới về kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc đề ra. Đề tài đã đánh giá kết quả công tác thu thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển chính sách, phân tích thực trạng tình hình, những vấn đề đặt ra đối với BHXH Việt Nam đối với quản lý thu khi mà Nhà nƣớc đang mở ra một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trƣờng, với nhiều thành phần kinh tế, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài đòi hỏi phải đổi mới chính sách pháp luật quy định về thu nhằm đảm bảo mở rộng đối tƣợng ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế tham gia đóng đầy đủ.
Đáp ứng thực tiễn phong phú, đa dạng về các mức tiền lƣơng, tiền công làm căn cứ đóng, hình thức đóng đồng thời có cơ chế quản lý số tiền thu từ cấp địa phƣơng đến trung ƣơng. Đề tài đã đóng góp những nghiên cứu khoa học, có ý nghĩa thực tiễn về xây dựng hệ thống biểu mẫu thu, phƣơng thức thực hiện thu từ địa phƣơng đến trung ƣơng, quản lý quỹ cũng nhƣ hình thức, phạm vi đầu tƣ tăng trƣởng một phần quỹ góp phần tạo lập bền vững và cân đối quỹ BHXH về lâu dài. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ BHXH bắt buộc khi thực hiện Luật BHXH” của Phạm Đỗ Nhật Tân (2007) [33]. Nguy cơ mất cân đối quỹ đã đƣợc các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và Tổ chức lao động Quốc tế khuyến nghị tới Chính phủ Việt Nam từ khi xây dựng Luật.
Quỹ BHXH chia thành các quỹ thành phần nhƣ là: quỹ chi trả chế độ hƣu trí, tử tuất (dài hạn); quỹ chi trả chế độ ốm đau, thai sản, dƣỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (ngắn hạn). Việc hình thành nên quỹ này là từ nguồn thu bắt buộc. Chính vì thế mà đề tài đã hệ thống các quy định của Nhà nƣớc về đối tƣợng thu, mức thu, cách thức vận hành và Luan van 6 quản lý quỹ, phân tích đánh giá thực trạng tình hình thu - chi quỹ này của Việt Nam, từ đó đề tài đã đƣa ra các dẫn chứng về những ƣu điểm và những mặt hạn chế về việc duy trì và mở rộng nguồn thu, sử dụng quỹ, điều kiện để hƣởng các chế độ chính sách nhằm đảm bảo sự an toàn của quỹ, cân đối quỹ trong tƣơng lai. Luận án Tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam” của Đỗ Văn Sinh (2005) [30], nghiên cứu đã góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa học và thực tiễn của quản lý quỹ này ở Việt Nam; tổng kết mô hình và phƣơng thức quản lý quỹ của một số nƣớc trên thế giới để rút ra một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong quản lý quỹ ở Việt Nam; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện công tác quản lý chi trả BHXH trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” của Hoàng Thị Minh Hòa (2012) [24], đã làm rõ đƣợc tầm quan trọng của công tác quản lý chi trả và trên cơ sở phân tích thực trạng công tác chi trả trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, từ đó đánh giá những hạn chế, tồn tại trong quá trình tổ chức công tác chi trả và quản lý chi trả; tìm ra những nguyên nhân và đã đƣa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi trả trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra, tác giả còn tham khảo các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành nhƣ Tạp chí BHXH, Báo BHXH. Tuy đã có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này nhƣng nghiên cứu quản lý nhà nƣớc về BHXH tại tỉnh Kon Tum là chƣa có một nghiên cứu nào, do vậy việc nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa hết sức cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn với mong muốn góp thêm một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về BHXH. Luan van 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Một số khái niệm a. BHXH + Theo từ điển Bách khoa “BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao dộng và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. + Tổ chức lao động Quốc tế đƣa ra khái niệm nhƣ sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến ngừng việc hoặc giảm sút thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [12].
Các khái niệm nêu trên cho thấy, BHXH là một phạm trù kinh tế xã hội tổng hợp có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. - Nhìn theo góc độ chính sách: là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo ngƣời lao động và bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị của một quốc gia. - Nhìn theo góc độ tài chính: là một quỹ tài chính tập trung, đƣợc hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của nhà nƣớc. Luan van 8 - Nhìn theo góc độ thu nhập: là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi ngƣời lao động có tham gia bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân.
- Nhìn theo góc độ quản lý: là công cụ quản lý của Nhà nƣớc để điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và Nhà nƣớc, thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. Theo cách hiểu chung nhất, có thể định nghĩa “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” (Theo Điều 3.1 Luật BHXH số 58/2014/QH13) [29]. Thu BHXH “Thu BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH” [23]. Phận loại thu gồm: + Bắt buộc: là loại hình do Nhà nƣớc tổ chức mà ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động phải tham gia.
+ Tự nguyện: là loại hình do Nhà nƣớc tổ chức mà ngƣời tham gia đƣợc lựa chọn mức đóng, phƣơng thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nƣớc có chính sách hỗ trợ tiền đóng để ngƣời tham gia hƣởng chế độ hƣu trí và tử tuất. Trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu về thu bắt buộc. Chi BHXH “Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi trả cho Luan van 9 các chế độ BHXH nhằm ổn định cuộc sống của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH” [23].