Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2 13- 2017; 5 Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn quận Hồng Bàng giai đoạn 2 18 -2022. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCVỀ PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY 1. Khái niệm, các yếu tố cấu thành, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy 1. Khái niệm, yếu tố cấu thành của quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy 1.
Khái niệm về phòng cháy, chữa cháy Cháy là một phản ứng hóa học giữa các chất cháy với ôxy của hông hí hoặc với một chất ôxy hóa hác èm theo sự tỏa nhiệt và phát sáng. Sự cháy chỉ có thể xảy ra hi có sự ết hợp trong những điều iện nhất định giữa chất cháy (hơi, hí, bụi cháy) với chất ôxy hóa có tác động của nguồn gây cháy. Các yêu tố cần cho sự cháy bao gồm: chất cháy, nguồn gây cháy và chất ôxy hóa, thiếu một trong ba yếu tố trên thì hông có sự cháy xảy ra (điều iện cần). Tuy nhiên, hông phải lúc nào cứ có đủ 3 yếu tố đó là sự cháy xảy ra mà phải có sự ết hợp các yếu tố trong những điều iện nhất định (điều iện đủ).
Các điều iện gây cháy ở đây có thể là thời gian tiếp xúc, hoảng cách giữa chất cháy với nguồn gây cháy; giới hạn nồng độ bốc cháy của chất cháy; cường độ nguồn gây cháy, nhiệt độ môi trường. Vì vậy, trong lĩnh vực PCCC phải nghiên cứu các nguyên nhân và điều iện gây cháy để phục vụ công tác phòng cháy cũng như dập tắt đám cháy.Việc nghiên cứu xác định bản chất, quy luật hình thành sự cháy có ý nghĩa quan trọng hông chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu hoa học PCCC mà còn có ý nghĩa tích cực trong quản lý nhà nước về PCCC. Tuy nhiên giữa nghiên cứu hoa học PCCC với quản lý nhà nước về PCCC hông đồng nhất với nhau về phạm vi hái niệm “cháy”. Theo quy định tại hoản 1 Điều 3 Luật PCCC [12]cháy được hiểu là: “Trường hợp xảy ra cháy hông iểm soát được có thể gây thiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng môi trường”.
Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật PCCC là phạm vi quản lý nhà nước về PCCC hông tác động đến mọi trường hợp gây cháy nói chung mà chỉ giới 7 hạn trong trường hợp sự cháy hông iểm soát được (đám cháy). Quan niệm về cháy như vậy là tiền đề để xem xét các hoạt động của con người trong phòng ngừa cháy, n cũng như trong hoạt động chữa cháy và các hoạt động hác có liên quan đến công tác PCCC. Việc nghiên cứu tìm ra bản chất, quy luật của quá trình phát sinh, phát triển đám cháy đối với mỗi chất, mỗi quá trình công nghệ sản xuất và trong các hoạt động bình thường hác của đời sống xã hội v.v… là để tìm ra các giải pháp phòng ngừa có hiệu quả, đó chính là hoạt động phòng cháy: Phòng cháy là hệ thống các biện pháp, giải pháp về tổ chức, ỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế các điều iện và nguyên nhân gây cháy, tạo điều iện thuận lợi cho việc cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan hi xảy ra cháy và cho việc tổ chức dập tắt đám cháy [12]. Tuy nhiên, từ sự cháy (trong phạm vi iểm soát) phát sinh và phát triển thành đám cháy là một quá trình có thể do nguyên nhân hách quan và chủ quan, trong đó có những nguyên nhân do sơ xuất bất cẩn hoặc ngoài sự iểm soát của con người đã và sẽ tiếp tục tồn tại, gây nên những đám cháy có thể gây t n hại lớn về người và tài sản.
Vì vậy, việc phòng ngừa cháy, n phải đi đôi với chữa cháy, hoạt động chữa cháy tồn tại như là một tất yếu trong các hoạt động chung của xã hội. Điều 3 Luật PCCC [12]quy định:“Chữa cháy bao gồm các c ng việc huy động, triển hai lực lượng, phương tiện chữa cháy, cắt điện, tổ chức thoát nạn, cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan, dập tắt đám cháy và các hoạt động hác có liên quan đến chữa cháy”. Hoạt động phòng cháy và hoạt động chữa cháy tuy là hai hái niệm có nội hàm hác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một thể thống nhất trong chủ động phòng ngừa cháy, n và sẵn sàng dập tắt đám cháy. Vì vậy, có thể hái quát chung về PCCC là: Tổng hợp các biện pháp, giải pháp về tổ chức, chiến thuật và ỹ thuật nhằm loại trừ hoặc hạn chế nguyên nhân, điều iện gây cháy; tạo điều iện thuận lợi cho việc chủ động cứu 8 người, cứu tài sản, chống cháy lan và chữa cháy ịp thời, có hiệu quả hi có cháy xảy ra.
Về quản lý nhà nước, hái niệm này thường được hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có t chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với cácquá trình xã hội và hành vi của con người, do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những mục tiêu, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Từ những nội dung nêu trên có thể rút ra một số điểm chú ý sau: Một là, quản lý hành chính nhà nước có tư cách là quyền lực nhà nước hay còn gọi là quyền hành pháp trong hành động; Hai là, quản lý hành chính nhà nước với tư cách là hoạt động thực hiện hàng ngày, t chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra các quyết định quản lý hành chính mang tính quy phạm hay tính cá biệt và tiến hành các hành vi quản lý cụ thể; Ba là, quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi hệ thống pháp nhân công quyền - thiết chế t chức hành chính nhà nước. Từ những trình bày ể trên các quan niệm về PCCC và quản lý hành chính nhà nước, có thể hiểu: “Quản lý nhà nước về PCCC là sự tác động có tổ chức của các cơ quan nhà nước, bằng pháp luật do nhà nước ban hành, tác động tới hoạt động PCCC trong các cơ quan, tổ chức, hộ gia đ nh và cá nhân của các chủ thể có th m quyền, hướng tới mục đích ngăn ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra và thiệt hại do cháy gây ra góp phần bảo vệ tính mạng, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tổ chức và cá nhân, bảo vệ m i trường, bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội”[18]. Đó là một bộ phận trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Các yếu tố cấu thành của quản lý nhà nước về PCCC Quản lý nhà nước về PCCC bao gồm các yếu tố: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, phương pháp và mục tiêu quản lý. Giữa chủ thể và đối tượng quản lý tuy có sự phân biệt nhưng sự phân biệt đó chỉ mang ý nghĩa tương 9 đối, hiệu quả của sự tác động của chủ thể đến đối tượng cũng phụ thuộc vào sự tác động của hách thể đến chủ thể quản lý. Mục tiêu của quản lý nhà nước về PCCC là nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra (nhất là các vụ cháy lớn) và thiệt hại do cháy gây ra; góp phần bảo vệ tính mạng, sức hỏe con người, bảo vệ tài sản của Nhà nước, t chức và cá nhân, bảo vệ môi trường, bảo đảm ANCT và TTATXH; đưa nhiệm vụ PCCC từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển inh tế xã hội, phục vụ đắc lực sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ thể quản lý nhà nước về PCCC là các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền và các cá nhân được bầu, được b nhiệm hoặc được trao một quyền hạn nhất định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý.
Theo quy định tại Điều 58 Luật PCCC [12], chủ thể quản lý nhà nước về PCCC bao gồm: Chính phủ, Bộ Công an, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp [15]. Chính phủ Theo quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 2 13, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Vai trò của Chính phủ trong quản lý nhà nước về PCCC là t chức thực hiện, bảo đảm việc chấp hành các yêu cầu của Luật PCCC thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về PCCC nhằm cụ thể hóa các yêu cầu của Luật PCCC[11]. Bộ C ng an Phòng cháy, chữa cháy thuộc lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đồng thời, theo quy định tại Điều 58 Luật PCCC, Bộ Công an được Chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện và chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về PCCC.