CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN THU DỊCH VỤ TRONG BỆNH VIỆN CÔNG 1. Nguồn thu dịch vụ tại Bệnh viện công 1.1 Khái niệm Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng. Dịch vụ có 4 đặc trưng cơ bản sau (Wolak và Kalafatis et al, 1998; Berry và Seiders et al, 2002): (1) Tính vô hình (intangibility) - sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi, khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi…trước khi mua, đặc điểm này của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho việc quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ. (2) Tính không thể chia tách (inseparability) - Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối chúng, quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ, do vậy, không thể dấu được các sai lỗi của dịch vụ.
(3) Tính không đồng nhất (heterogeneity) - dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát. Trước hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong khoảng thời gian hoàn toàn khác nhau, nghĩa là gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau. (4) Tính dễ hỏng (Perishability) - dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác, không thể kiểm tra chất lượng trước khi cung ứng, người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc. Sản phẩm dịch vụ có một số đặc trưng ngoại lệ so với các sản phẩm hữu hình thuần túy như trên.
Sản xuất một sản phẩm dịch vụ có thể hoặc không thể yêu cầu sử dụng những hàng hóa hữu hình. Ngoài ra, đặc tính đáng kể nhất đó là nó thường gây khó khăn cho khách hàng đánh giá dịch vụ tại thời điểm trước khi tiêu dùng, trong lúc tiêu dùng và sau khi tiêu dùng. Hơn nữa, do tính chất vô hình của dịch vụ nên nhà cung cấp dịch vụ cũng đứng trước những khó khăn để hiểu như thế nào về sự cảm nhận của khách hàng và sự đánh giá chất lượng dịch vụ đó. Trong quá trình tiêu 5 dùng dịch vụ, chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp cung cấp cung cấp dịch vụ đó (Svensson, 2002; dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2007).
Khái niệm về dịch vụ y tế Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng và nhóm dịch vụ y tế công cộng Trong cuộc sống, con người luôn luôn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ không những của bản thân mà của cả gia đình. Không chỉ khi mắc bệnh thì con người mới có nhu cầu được chạy chữa mà ngay cả lúc khoẻ mạnh chúng ta vẫn có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): Dịch vụ y tế bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ. Chúng bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng.TS Lê Chi Mai: Dịch vụ y tế bao gồm dịch vụ về khám chữa bệnh, tiêm chủng, phòng chống bệnh tật….
Đây được xem như một quyền cơ bản của con người, vì vậy không thể để cho thị trường chi phối mà đó là trách nhiệm của nhà nước. Tóm lại, có nhiều quan niệm về dịch vụ y tế được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ y tế chính là một loại hàng hóa dịch vụ công đặc thù, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân và cộng đồng bao gồm hai nhóm dịch vụ thuộc khu vực công mở rộng: Nhóm dịch vụ khám, chữa bệnh theo yêu cầu (mang tính chất hàng hóa tư nhiều hơn có thể áp dụng cơ chế cạnh tranh trong thị trường này) và nhóm dịch vụ y tế công cộng như phòng chống dịch bệnh (mang tính chất hàng hóa công nhiều hơn)…do Nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm. Để hiểu được bản chất nguồn thu tại Bệnh viện công thì trước hết chúng ta cần biết khái niệm về Bệnh viện công. Bệnh viện công là Bệnh viện do Nhà nước thành lập, có chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận mọi người bệnh đến cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú theo chế độ chính sách Nhà nước quy định; tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận 6 sức khỏe; là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế, và là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh.
Tồn tại song song với các Bệnh viện công là các Bệnh viện tư nhân. Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 04 năm 2005 về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Việc ban hành Nghị quyết như một làn gió mới thổi vào lĩnh vực y tế. Nền tảng thực hiện xã hội hóa công tác y tế chính là việc thành lập các Bệnh viện do tư nhân làm chủ và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế như hiện nay.
Như vậy, Bệnh viện công là đơn vị được Nhà nước thành lập để phục vụ nhu cầu khám và điều trị bệnh của nhân dân, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ y tế khác do Nhà nước giao. Các nguồn thu trong Bệnh viện công được thực hiện trên cơ sở cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh theo khung giá do Nhà nước quy định, được giao quyền tự chủ về tài chính và được phép khai thác các nguồn thu dịch vụ hợp pháp khác theo quy định.2 Nguồn thu dịch vụ trong bệnh viện công Trong hơn 20 năm qua, những thành tựu đạt được trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân gắn liền với quá trình đổi mới và phát triển đất nước, trong đó có sự đổi mới của hệ thống y tế. Có thể nói rằng, đổi mới lĩnh vực y tế ở nước ta bắt đầu từ việc đổi mới các chính sách và cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh. Đó là chính sách thu một phần viện phí, chính sách bảo hiểm y tế, chính sách miễn giảm viện phí cho người có công với cách mạng, người nghèo, chính sách xã hội hóa y tế.
Trong những năm gần đây, ngành y tế Việt Nam liên tục đạt được những thành tựu đáng kể, nhiều chỉ số về sức khỏe đạt mức cao hơn so với các nước có cùng mức thu nhập. Việt Nam được coi là quốc gia có những chính sách tài chính y tế công bằng như hỗ trợ người nghèo, trẻ em, người già, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng. Hiện nay, Bộ Y tế cũng đang thực hiện đề án tăng cường nhân lực y tế bổ sung cho 62 huyện nghèo trong cả nước. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính cho các cơ sở y tế công lập.
7 Thực tế đã chứng tỏ rằng, đổi mới cơ chế chính sách đối với công tác tài chính trong dịch vụ khám chữa bệnh rất quan trọng vànó đã tác động tới các cơ sở cung ứng dịch vụ, người sử dụng dịch vụ, ảnh hưởng rất lớn tới cả hệ thống y tế. Ở nước ta, theo chủ trương của Bộ Y tế, nguồn thu tại Bệnh viện là một nội dung của chính sách kinh tế - tài chính y tế với trọng tâm là sử dụng nguồn thu hợp pháp cho ngành y tế nhằm cung cấp các dịch vụ y tế công bằng và hiệu quả. Tính công bằng thể hiện ở chỗ phải cung cấp dịch vụ y tế như nhau cho những người có bệnh tật như nhau, thỏa mãn nhu cầu khám chữa bệnh của tất cả mọi người. Tính hiệu quả chính là cần phải chú trọng đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật, phương pháp phân phối và sử dụng nguồn lực, hiệu quả quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân.
Vì vậy, ở nước ta quản lý nguồn thu tại Bệnh viện nhằm mục đích thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp cho các đơn vị phát triển ổn định trong cơ chế hiện nay. Hiện nay, các nguồn thu chủ yếu tại các Bệnh viện công lập bao gồm: nguồn thu từ quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu viện phí trực tiếp từ người bệnh, nguồn thu từ hoạt động liên doanh liên kết, hoạt động y tế dự phòngvà các hoạt động khác. Xét về bản chất, hầu hết các nguồn thu này đều cho người dân đóng góp.
Quỹ bảo hiểm y tế được hình thành từ phí bảo hiểm tính theo tỷ lệ trên thu nhập của người lao động và đơn vị sử dụng lao động. Nguồn thu viện phí trực tiếp từ người bệnh chính là nguồn thu từ tiền túi của người dân khi sử dụng dịch vụ y tế. Bên cạnh đó, nguồn thu của đơn vị cũng được phân làm hai loại: tài chính công và tài chính tư. Nguồn tài chính cấp cho cơ sở y tế thông qua NSNN và Quỹ bảo hiểm y tế được coi là tài chính công.
Còn nguồn thu từ việc sử dụng dịch vụ y tế của người dân thì được coi là nguồn tài chính tư.3 Phân loại nguồn thu ở bệnh viện công Các nguồn tài chính chủ yếu cho các bệnh viện công lập hiện nay bao gồm: Ngân sách nhà nước (NSNN) và các nguồn thu dịch vụ của bệnh viện. Cơ cấu của các nguồn tài chính nói trên đang có sự thay đổi rõ rệt do tác động của các cơ chế, chính sách tài chính y tế những năm gần đây. Nguồn thu từ Ngân sách nhà nước Trước Đổi mới cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước, NSNN là nguồn tài chính chủ yếu của bệnh viện. Theo cơ chế bao cấp, NSNN cấp cho bệnh viện được chia thành chi đầu tư phát triển (chi đầu tư cơ sở hạ tầng, TTB) và chi thường xuyên (gồm chi phí trực tiếp cho dịch vụ KCB).