CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN 1. Khái niệm, lịch sử và quá trình hình thành công tác quản lý dự án [11] 1. Khái niệm công tác quản lý dự án Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quản lý dự án gồm 3 nội dung chủ yếu là lập kế hoạch; điều phối thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Lập kế hoạch: Đây là việc xây dựng mục tiêu, xác định những công việc cần được hoàn thành , nguồn lực cần thiết đề thực hiện dự án và quá trình phát triển kế hoạch hành động theo một trình tự logic mà có thể biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống. Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối các nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, MMTB và đặc biệt là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Nội dung này chi tiết hóa thời gian thực hiện cho từng công việc và toàn bộ dự án. Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng.
Các nội dung của quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó được cung cấp thông tin phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án. Mục tiêu cơ bản của công tác quản lý dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn thành theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt, đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không thay đổi. Ba yếu tố: thời gian chi phí và chất lượng (kết quả hoàn thành) là những mục tiêu cơ bản và giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy mối quan hệ 6 giữa ba mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kỳ của dự án, nhưng nói chung để đạt kết quả tốt với với mục tiêu này thường phải “hy sinh” một hoặc hai mục tiêu kia.
Do vậy, trong quá trình quản lý dự án các nhà quản lý hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu của dự án. Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập kế hoạch dự án như trình bày tại hình 1.1 Lập kế hoạch - Thiết lập mục tiêu - Dự tính nguồn lực - Xây dựng kế hoạch Giám sát Điều phối thực hiện - Bố trí tiến độ thời gian - Đo lường kết quả - Phân phối nguồn lực - So sánh với báo cáo - Phối hợp các hoạt động - Báo cáo - Khuyến khích động - Giải quyết các vấn đề viên Hình 1. Chu trình quản lý dự án 1. Lịch sử và quá trình hình thành của công tác quản lý dự án: Quản lý dự án thực ra không phải là một lĩnh vực mới, từ lâu đời nó đã được thể hiện dưới hình thức này hay hình thức khác.
Những công trình xây dựng kỳ vĩ của thế giới cổ đại như: Kim tự tháp Ai Cập, Vạn lý trường thành, Angkovat, hay các hệ thống cầu cống, đường sá, thủy lợi,. hầu hết đều có các đặc điểm của dự 7 án ngày nay. Những công việc tuyệt tác như vậy sẽ không thể hoàn thành nếu không có sự đầu tư thích đáng về kỹ thuật, tài chính, nhân công và yếu tố không thể thiếu được là công tác quản lý. Ngay từ đầu thế kỷ XX, các nhà quản lý đã bắt đầu áp dụng các phương thức quản lý theo khoa học.
Năm 1917, Henry Laurence Gantt đã phát kiến một công cụ lập kế hoạch bằng đồ thị và đã được sử dụng trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất vào các dự án sản xuất vũ khí, đạn dược. Cho đến ngày nay, biểu đồ này vẫn đang được sử dụng trong công tác quản lý dự án và được gọi bằng cái tên đơn giản là biểu đồ Gantt. Vào cuối thập niên 1950, Dupont với sự trợ giúp của công nghệ máy tính Remington Rand Univac, áp dụng một phương pháp mà nay đã trở nên quen thuộc là Đường tới hạn(CPM) để quản lý việc vận hành và bảo dưỡng một nhà máy. Gần như cũng tại thời điểm đó, hãng tư vấn Booz Allen & Hamilton đã hợp tác với lực lượng Hải quân Mỹ xây dựng Kỹ thuật kiểm tra và đánh giá chương trình (PERT) bao gồm các biểu đồ và lịch trình cần thiết cho việc phát triển dự án thiết kế tàu ngầm hạt nhân Polaris.
Nhiều nhà quản lý đều thống nhất rằng, có thể coi thời điểm xuất hiện của ngành khoa học quản lý dự án là vào khoảng đầu của những năm 50. Do có nhiều lợi ích đặc biệt nên ngay từ những năm 60, quản lý dự án đã được ứng dụng một cách nhanh chóng và rộng rãi (nhất là ở các nước phát triển) trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội như hàng không, pháp luật, y tế, tiền tệ, xây dựng,. bao gồm cả nông nghiệp và phát triển nông thôn. Lý luận và phương pháp quản lý dự án cũng từ đó đã dần được mở rộng đến nhiều quốc gia khác.
Ngày nay, quản lý dự án đã được thừa nhận hiển nhiên trên khắp thế giới như là một phương pháp luận công nghệ và sự hợp tác Quốc tế toàn cầu qua những bối cảnh lịch sử khác nhau. Sự thay đổi nhanh chóng và áp lực mạnh mẽ từ các cuộc cạnh tranh khắc nghiệt đã khiến ngày càng nhiều hoạt động của một tổ chức trở thành công việc của dự án. Sự thay đổi về công nghệ, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng đã làm giảm bớt tính chất thường nhật của công việc. Công việc đã trở nên phức tạp hơn và các phòng ban của một tổ chức vốn được bố trí để làm những công 8 việc thường ngày sẽ khó tiếp cận với các công việc mới.
Bên canh đó, áp lực của cạnh tranh cũng buộc các tổ chức phải triển khai các công việc nhanh chóng hơn. Do vậy, quản lý dự án đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong khoa học quản lý hiện đại. Nếu " Dự án" trong khái niệm chung nhất là sự thay đổi có định hướng của một hệ thống vật chất hoặc tinh thần tới một sự tốt đẹp hơn, thì "Quản lý dự án" chính là quản lý sự thay đổi ấy. Về bản chất, quản lý dự án là việc bố trí, theo dõi và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu trong một khoảng thời gian cụ thể.
Do vậy, môn khoa học này có ý nghĩa rất lớn để giúp một tổ chức hay cá nhân thực hiện được những nhiệm vụ lớn và quan trọng. Vì quản lý dự án sẽ giúp cho việc: - Thực hiện được công việc đúng thời hạn và trong phạm vi ngân sách cho phép. - Rút ngắn được thời gian phát triển, bằng cách đáp ứng các mục tiêu đề ra trong phạm vi hợp lý, giúp giảm thiểu các rủi ro. - Sử dụng được các nguồn lực một cách hiệu quả, không làm lãng phí tiền bạc hoặc thời gian của tập thể và cá nhân.
Như vậy có thể thấy rằng, quản lý dự án có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế và tài chính của công việc. Sử dụng phương pháp và các phương tiện của quản lý dự án cho phép không chỉ đạt được mục đích tài chính theo yêu cầu chất lượng, tiết kiệm các nguồn lực mà còn đem lại lợi ích kinh tế-xã hội, cải thiện môi trường, hạ thấp rủi ro và thúc đẩy năng lực sáng tạo của con người. Chính vì vậy, quản lý dự án đặc biệt phát huy hiệu quả cao và hợp lý hơn trong điều kiện kinh tế thị trường. Ở nước ta, khoa học về quản lý dự án mới được đề cập trong những năm gần đây cùng với chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ, nên những kinh nghiệm trong lĩnh vực này còn khiêm tốn.
Điều đó được chứng minh là trong thời gian qua, hiệu quả kinh tế và tài chính của nhiều dự án mang lại đã không như mong muốn. Có nhiều nguyên nhân nhưng phải thừa nhận rằng, chúng ta bị ảnh hưởng nặng nề 9 bởi một bộ máy hành chính cứng nhắc với sự kiểm soát cao độ của cơ chế chỉ huy trong những năm trước đây mà không phải là cơ chế quản lý kiểu dự án. Chính vì vậy, khoa học về dự án và quản lý dự án là rất cần thiết cho sự nghiệp đổi mới nền kinh tế, xã hội của đất nước. Đánh giá chung về thành quả đã đạt được của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng ở nước ta 1.
Tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng ở nước ta được phân cấp như sau [10]: - Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng trong phạm vi cả nước - Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng. - Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Xây dựng để thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng. - Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ. Cụ thể như sau: + Trách nhiệm của Chính phủ - Thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng công trình trong phạm vi cả nước; chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch; ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng.
- Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện pháp luật về xây dựng; phân công, phân cấp quản lý nhà nước cho các bộ, ngành, địa phương; chỉ đạo giải quyết những vấn đề quan trọng, phức tạp vướng mắc trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng.