Chương 1: Cơ sở lý luận về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại trường Cao đẳng Tài Chính – Hải Quan; Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án của trường Cao đẳng Tài chính – Hải quan. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1. Dự án đầu tƣ xây dựng 1. về dự án và dự án đầu tư xây dựng: ● Khái niệm về dự án: Trong những năm gần đây, khái niệm “Dự án” trở nên quen thuộc đối với nhà quản lý các cấp trong tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, trong nhiều lĩnh vực có rất nhiều hoạt động đƣợc thực hiện theo hình thức dự án.
Chính vì thế có nhiều cách định nghĩa dự án, tùy theo mục đích nghiên cứu mà trong từng định nghĩa sẽ nhấn mạnh một khía cạnh nào đó của dự án: - Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dƣới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt đƣợc mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó mà bạn mong muốn. - Dự án là một quá trình mang tính đặc thù riêng, bao gồm một loạt các hoạt động đƣợc phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, đƣợc thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt đƣợc mục tiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể. - Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ các công việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.
● Khái niệm về đầu tƣ xây dựng: - Theo quan điểm về kinh tế: Đầu tƣ là sự bỏ ra một lƣợng vốn để tạo ra một tài sản dƣới một hình thức nào đó (có thể là hình thức vật chất cụ thể nhƣ nhà cửa, cầu đƣờng, máy móc thiết bị hoặc là hình thức tài chính nhƣ mua cổ phần, cho vay.) nhằm khai thác và sử dụng nó, để tài sản này có khả năng sinh lời hay thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó của ngƣời bỏ vốn trong khoảng thời gian nhất định trong tƣơng lai. Nói cách khác thì: Đầu tƣ là 5 hoạt động bỏ vốn để tạo ra tài sản để tài sản này có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau để đạt đƣợc mục đích của ngƣời bỏ vốn. - Theo quan điểm tài chính: Đầu tƣ là làm bất động một số vốn, để sau đó rút ra với khoản tiền lãi ở thời kỳ tiếp theo. Nói cách chi tiết hơn, đó là một chuỗi hành động chi tiền của chủ đầu tƣ, từ đó, chủ đầu tƣ sẽ nhận đƣợc một chuỗi tiền tệ để đảm bảo hoàn vốn và trang trải mọi chi phí có liên quan và có lãi.
- Theo quan điểm kế toán: Đầu tƣ là hoạt động gắn liền với một số khoản chi vào động sản hoặc bất động sản để tạo khoản thu lớn hơn. Đối với hoạt động xây dựng, đầu tƣ là hoạt động bỏ vốn để xây dựng các công trình xây dựng nhằm đáp ứng mục đích đầu tƣ của chủ đầu tƣ và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. ● Khái niệm về dự án đầu tƣ xây dựng [15]: Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18/ 01/01/2015: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tƣ xây dựng, dự án đƣợc thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tƣ xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tƣ xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tƣ xây dựng.
Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tƣ là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tƣ và cho xã hội. Dự án đầu tƣ xây dựng có thể đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau: 6 - Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: Dự án đầu tƣ xây dựng có thể đƣợc hiểu nhƣ là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tƣ nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra trong một khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình cụ thể thực hiện các hoạt động đầu tƣ. - Xét về mặt hình thức: dự án đầu tƣ là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. - Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tƣ là một công cụ hoạch định việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội.
- Xét trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tƣ là kế hoạch chi tiết để thực hiện chƣơng trình đầu tƣ xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra quyết định đầu tƣ và sử dụng vốn đầu tƣ. - Xét trên góc độ phân công lao động xã hội: Dự án đầu tƣ thể hiện sự phân công, bố trí lực lƣợng lao động xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên. - Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tƣ là một tập hợp các hoạt động cụ thể, có mối liên hệ biện chứng, nhân quả với nhau để đạt mục đích nhất định trong tƣơng lai. Dự án đầu tƣ là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tƣ, do đó bên trong nó chứa các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tƣ.
Trƣớc hết, dự án đầu tƣ phải thể hiện rõ mục đích đầu tƣ, có thể là mục đích dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn hoặc là mục đích chiến lƣợc hay là mục đích trƣớc mắt. Mục đích trƣớc mắt đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể nhƣ năng lực sản xuất, quy mô sản xuất hay hiệu quả kinh tế. Còn mục đích lâu dài có thể là các lợi ích kinh tế cho xã hội mà dự án đầu tƣ 7 phải mang lại. Hai là, dự án đầu tƣ phải thực hiện nguồn lực và cách thức để đạt đƣợc mục tiêu.
Nó bao gồm cả các điều kiện và biện pháp vật chất để thực hiện nhƣ vốn, nhân lực, công nghệ. Ba là, với khoảng thời gian bao lâu thì các mục tiêu có thể đạt đƣợc và cuối cùng là ai có thể thực hiện hoạt động đầu tƣ này và kết quả của dự án. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Các dự án đầu tƣ xây dựng đều có chung đặc điểm nhƣ sau [7]: - Mỗi dự án phải có một hoặc một số mục tiêu rõ ràng. Thông thƣờng ngƣời ta cố gắng lƣợng hóa mục tiêu thành các chỉ tiêu cụ thể cho từng dự án.
Mỗi dự án là một quá trình tạo ra một kết quả cụ thể. Nếu kết quả cuối cùng mà kết quả đó không phải là kết quả của một tiến trình thì kết quả đó không đƣợc gọi là dự án. - Mỗi dự án đều có một thời hạn nhất định: có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn. Vai trò của dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tƣ có vai trò quan trọng sau: - Là phƣơng tiện để tìm đối tác trong và ngoài nƣớc liên doanh bỏ vốn đầu tƣ.
- Là phƣơng tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nƣớc tài trợ cho vay vốn. - Là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tƣ, theo dõi đôn đốc quá trình thực hiện và kiểm tra quá trình thực hiện dự án. - Là văn kiện cơ bản để các cơ quan quản lý Nhà nƣớc xem xét, phê duyệt, cấp giấy phép đầu tƣ. - Là căn cứ quan trọng nhất để theo dõi đánh giá và điều chỉnh kịp thời những tồn đọng và vƣớng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác dự án.
- Dự án đầu tƣ có tác dụng tích cực để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các bên có liên quan đến thực hiện dự án. - Dự án đầu tƣ là căn cứ quan trọng để xem xét, xử lý hài hoà mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nƣớc Việt Nam. Và đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh. 9 - Dự án đầu tƣ còn là căn cứ quan trọng để xây dựng hợp đồng liên doanh, soạn thảo điều luật của doanh nghiệp liên doanh.
Với những vai trò quan trọng nhƣ vậy không thể coi việc xây dựng một dự án đầu tƣ là việc làm chiếu lệ để đi tìm đối tác, xin cấp vốn, vay vốn, xin giấy phép mà phải coi đây là một công việc nghiên cứu nghiêm túc, bởi nó xác định rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ của chính bản thân đơn vị lập dự án trƣớc Nhà nƣớc và nhân dân. Các yêu cầu cơ bản đối với dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tƣ xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau đây [12]: - Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng; - Có phƣơng án thiết kế và phƣơng án công nghệ phù hợp; - An toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, an toàn phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trƣờng; - Bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của Dự án. Đối với những công trình xây dựng có quy mô lớn, các dự án quan trọng quốc gia, trƣớc khi lập Dự án Chủ đầu tƣ xây dựng phải lập báo cáo đầu tƣ xây dựng để trình cấp có thẩm quyền, Quốc hội, cho phép, phê duyệt chủ trƣơng đầu tƣ.