Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm dự án đầu tư và dự án đầu tư xây dựng cơ bản a. Khái niệm dự án đầu tư Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
DAĐT là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Theo Điều 3 Luật đầu tư 61/2020/QH14: DAĐT là là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. DAĐT là bản luận chứng tổng hợp phản ánh toàn bộ các vấn đề: thị trường, kinh tế kỹ thuật, công nghệ, xây dựng, tổ chức sản xuất, khả năng thu hồi vốn. Trên cơ sở tập hợp các luận chứng riêng biệt, cụ thể những hoạt động có hệ thống về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội sẽ thực hiện trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu phát triển nhất định.
Khái niệm dự án đầu tư xây dựng cơ bản Theo điều 3 - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát 5 triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng; Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng Theo Điều 50 - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 và điều 6 - Nghị định 59/2015/NĐ-CP ban hành ngày 18/6/2015, trình tự đầu tư xây dựng của dự án bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị dự án; Thực hiện dự án và Kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ. Giai đoạn chuẩn bị dự án Giai đoạn này gồm các công việc: tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.
Giai đoạn thực hiện dự án Giai đoạn này gồm các công việc: thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng: Giai đoạn này gồm các công việc: quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng. Khái niệm Quản lý dự án Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quá trình quản lý dự án gồm 3 giai đoạn chủ yếu: lập kế hoạch, điều phối thực hiện dự án và giám sát thực hiện các công việc dự án nhằm đạt được mục tiêu xác định.
Trong đó: - Lập kế hoạch: là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hoạt động thống nhất, theo trình tự logic. - Điều phối thực hiện dự án: là quá trình phân phối nguồn lực, bao gồm: tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án, trên cơ sở đó bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hơp. - Giám sát: là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Cùng với hoạt động giám sát, 7 công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm. Khái niệm Quản lý dự án đầu tư xây dựng là quá trình quản lý dự án đầu tư trong lĩnh vực đầu tư xây dựng nhằm tạo ra đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Tác dụng của quản lý dự án dự án đầu tư xây dựng Mục tiêu tổng hợp của QLDA là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép. Về mặt toán học, ba mục tiêu này liên quan chặt chẽ với nhau và có thể biểu diễn theo công thức sau: C = f (P,T,S) Trong đó: C: chi phí P: mức độ hoàn thành công việc T: Yếu tố thời gian S: Phạm vi dự án Phương pháp trên cho thấy, chi phí là một hàm của các yếu tố: mức độ hoàn thành công việc, thời gian thực hiện và phạm vi dự án.
Nói chung, chi phí của dự án tăng lên khi chất lượng hoàn thiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài hơn và phạm vi dự án được mở rộng. Nếu thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăng cao sẽ phát sinh tăng chi phí một số khoản mục nguyên vật liệu. Mặt khác, thời gian kéo dài dẫn đến tình trạng làm việc kém hiệu quả do công nhân mệt mỏi, do chờ đợi và thời gian máy chết tăng theo. làm phát sinh tăng một số khoản mục chi phí.
Thời gian thực hiện dự án chi phí kéo dài, chi phí lãi ngân hàng, chi phí gián tiếp 8 cho bộ phận (chi phí hoạt động của văn phòng dự án) tăng theo thời gian và nhiều trường hợp, phát sinh tăng khoản tiền phạt do không hoàn thành đúng tiến độ ghi trong hợp đồng. Phương trình trên cũng cho thấy mục tiêu tổng hợp của QLDA do 3 mục tiêu thành phần tạo nên, đó là: - Kết quả mong muốn (số lượng, chất lượng) - Thời gian - Chi phí Trong quá trình QLDA, các nhà quản lý mong muốn đạt được một cách tốt nhất tất cả các mục tiêu thành phần đặt ra. Tuy nhiên, thực tế không đơn giản. Dù phải đánh đổi hay không đánh đổi mục tiêu, các nhà quản lý hy vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục tiêu thành phần của QLDA nhằm tới mục tiêu tổng hợpPhương pháp quản lý dự án đòi hỏi sự nỗ lực, tính tập thể và yêu cầu hợp tác, tác dụng của quản lý dự án được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau: - Liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án - Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án - Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành viên tham gia dự án.
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được. Tạo điều kiện cho đàm phám trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng. - Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn. Cơ sở pháp lý và các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 1.
Cơ sở pháp lý về quản lý dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam Hệ thống các văn bản quản lý dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam hiện nay gồm có các văn bản sau: - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 18/6/2014 thay thế hoàn toàn Luật Xây dựng 2003; - Luật đầu tư công số 39/2019/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 13/6/2019) - Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 17/6/2009; - Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 26/11/2013; - Nghị định số Nghị định 15/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày ký ban hành và thay thế Nghị định 59/2015/NĐ-CP) - Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ban hành ngày 26/6/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu; - Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng mà trước đó là Nghị định 68/2019/NĐ-CP - Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng; - Nghị định số 46/2015/NĐ-CP quy định Về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thế nghị định 15/2013/NĐ-CP và Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26/01/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.