CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHỢ 1. Khái niệm cơ bản và phân loại chợ 1. Khái niệm chợ Sự hình thành và phát triển của chợ gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa gắn với đời sống con người, thông qua bộ mặt và tình hình sinh hoạt chợ có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống dân cư của một vùng, hoặc của một địa phương. Thông thường chợ được xem là không gian diễn ra các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ.
Theo Đại từ điển tiếng Việt - NXB Văn hoá Thông tin (2004) "Chợ là nơi tụ họp giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hoá, thực phẩm hàng ngày theo từng buổi hoặc từng phiên nhất định (chợ phiên)”[trang 155]. Với khái niệm này cho thấy được tính khái quát cao với những cấu thành cơ bản nhất: nơi - không gian; ngày, buổi nhất định thời gian và nhiều người tụ họp để thoả mãn nhu cầu và mục đích mua bán. Chợ là một kiểu tổ chức thị trường, tổ chức mua bán, phân phối hàng hóa. Với nghĩa này, khái niệm chợ gần gũi với khái niệm thị trường.
Tức là bất kỳ khung cảnh không gian nào đó diễn ra việc mua bán các loại hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, khái niệm thị trường cũng đề cập đến “nơi” hay “khung cảnh không gian” và ở đó diễn ra việc “mua, bán” hàng hóa. Chính vì sự tương đương giữa hai khái niệm này, mà chợ và thị trường trong nhiều trường hợp cũng được coi là đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa. Đại từ điển kinh tế thị trường định nghĩa “chợ là thị trường mua bán đổi chác hàng hóa định kỳ hoặc không định kỳ” [trang 24].
Theo ngôn ngữ tiếng Anh, thì “chợ” và “thị trường” đều được gọi chung là “market”. Như vậy, có thể nói rằng, chợ chính là thị trường, là hình ảnh trực quan, nhưng cô đọng và tập trung nhất của thị trường. Chợ nằm trong hệ thống thị trường và khái niệm chợ nằm trong phạm vi của khái niệm thị trường. Trong hệ thống thị trường hiện nay, chợ truyền thống được xếp vào loại thị trường hàng hoá giao ngay, ở đó người bán và người mua đàm phán, mặc cả trực tiếp, người mua tiếp cận trực tiếp với hàng hoá, thoả thuận xong là giao nhận hàng và thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt, hầu 5 như không sử dụng công nghệ hoặc thiết bị hiện đại trong giao dịch, khối lượng giao dịch thường là nhỏ, ngoại trừ ở một số chợ đầu mối, phát luồng hàng hoá có khối lượng giao dịch hàng hoá lớn.
Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại (nay là Bộ Công Thương – Việt Nam) hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ thì "Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội". Tại điều 1, điều 4, Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính Phủ về phát triển và quản lý chợ cho rằng "Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư". Theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9211: 2012 (Chợ - Tiêu chuẩn thiết kế) thì “chợ là một môi trường kiến trúc công cộng của một khu vực dân cư được chính quyền quy định, cho phép hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ thương nghiệp” [khoản 3. Khái quát từ các khái niệm đã nêu ở trên, có thể nói: chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội, hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định; là nơi phục vụ trao đổi mua bán, thoả mãn nhu cầu cuộc sống dân sinh của nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội, tập trung các hoạt động mua bán của nhiều thành phần kinh tế, dân cư trong xã hội, phản ánh tình hình kinh tế - xã hội của một địa phương.
- Khái niệm về quản lý: Một cách tổng quát nhất, quản lý được xem là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành. Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị; nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Dù dưới góc độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của việc quản lý. Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo đúng ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước.
6 - Quản lý chợ: là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của các chủ thể quản lý đối với sự hình thành, phát triển mạng lưới chợ cũng như đối với các hình thức tổ chức quản lý trực tiếp hoạt động của các chợ nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước. Phân loại chợ Hiện nay ở nước ta tồn tại rất nhiều các loại chợ khác nhau, dựa theo những tiêu thức khác nhau ta có những cách phân loại sau: a) Theo địa giới hành chính: Theo cách phân loại này, có hai loại chợ là chợ đô thị và chợ nông thôn. - Chợ đô thị là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ. Ở khu vực này, thu nhập, mức sống và trình độ văn hoá của dân cư thường cao hơn ở nông thôn, cho nên các chợ thành phố thường có quy mô lớn và hiện đại hơn.
Văn minh thương mại trong chợ cũng được chú trọng, cơ sở vật chất thường xuyên được tăng cường, bổ sung và hoàn chỉnh. Phương tiện phục vụ mua bán, hệ thống phương tiện truyền thông và dịch vụ ở các chợ này thường tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn. - Chợ nông thôn là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm cụm xã. Hình thức trao đổi hàng hóa ở chợ đơn giản với các quầy, sạp có quy mô nhỏ lẻ, manh mún một số vùng núi, người dân tộc thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ.
Ở các chợ nông thôn bản sắc văn hóa, truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, của các vùng lãnh thổ khác nhau được thể hiện rất rõ nét. b) Theo tính chất mua bán: Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai loại là chợ bán buôn và bán lẻ. - Chợ bán buôn là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của thành phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung với khối lượng hàng hoá lớn. Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi các nơi.
Các chợ này thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, các chợ bán lẻ trong và ngoài khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng cho xuất khẩu. Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%), đồng thời vẫn có bán lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ. 7 - Chợ bán lẻ là những chợ thuộc phạm vi xã, phường (liên xã, liên phường), cụm dân cư, hàng hoá qua chợ chủ yếu để bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng. c) Theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh: Dựa theo đặc điểm này, có hai loại chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh.
- Chợ tổng hợp là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngành hàng khác nhau. Trong chợ có nhiều loại mặt hàng như: đáp ứng toàn bộ các nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Ở Việt Nam, hình thức chợ tổng hợp chiếm ưu thế về số lượng. - Chợ chuyên doanh là loại chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu, mặt hàng này thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời vẫn có bán một số mặt hàng khác, các loại hàng này có doanh số dưới 40% tổng doanh thu.
d) Theo số lượng hộ kinh doanh, vị trí và mặt bằng của chợ: Dựa theo cách phân loại trong Điều 3 Nghị định số 02/2003/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định số 114/2009/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ thì chợ được chia thành 03 hạng: chợ hạng 1, chợ hạng 2 và chợ hạng 3. - Chợ hạng 1 là chợ có trên 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại theo quy hoạch. Chợ được đặt ở các vị trí trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của ngành hàng, của khu vực kinh tế và được tổ chức họp thường xuyên. Mặt bằng chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức đầy đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch vụ khác.
- Chợ hạng 2 là chợ có từ 200 điểm kinh doanh đến 400 điểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố theo quy hoạch; được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường xuyên hay không thường xuyên; có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hóa, kho bảo quản hàng hóa, dịch vụ đo lường, vệ sinh công cộng. - Chợ hạng 3 là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố. Chợ chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường và địa bàn phụ cận. 8 e) Theo tính chất và quy mô xây dựng: Theo tiêu chí này, chợ được chia thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố và chợ tạm.
- Chợ kiên cố là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đủ các yếu tố của một công trình kiến trúc, có độ bền sử dụng cao (thời gian sử dụng trên 10 năm). Chợ kiên cố thường là chợ hạng 1 có diện tích đất hơn 10.